Những Mật pháp Đức Phật truyền trao trong lần chuyển pháp luân thứ 3 | Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên | Đại Bảo Tháp | Đại Bảo Tháp Tây Thiên

Những Mật pháp Đức Phật truyền trao trong lần chuyển pháp luân thứ 3

Lần chuyển pháp luân thứ ba chứa đựng nhiều kinh điển khác nhau, quan trọng nhất là kinh điển về Như Lai tạng, mà đấy thật sự là cội nguồn cho tập hợp những bài tán dương của Bồ tát Long Thọ, và cũng là giáo pháp của Đức Phật Di Lặc, Mật Điển Tối Thượng (tiếng Phạn là Ratnagotravibhāga). Trong kinh điển này, Đức Phật khám phá xa hơn những chủ đề tính Không mà Ngài đã đề cập trong lần chuyển pháp luân thứ hai, nhưng không phải từ quan điểm khách quan về tính Không, bởi vì tính Không đã được giải thích đến trình độ hoàn hảo nhất, cao nhất, và thâm sâu nhất của nó trong lần chuyển pháp luân thứ hai. Điều riêng biệt về lần chuyển pháp luân thứ ba là Đức Phật đã chỉ dạy những phương cách cụ thể của việc trưởng dưỡng trí tuệ thực chứng về tính Không.

Khi Đức Phật gần tám mươi tuổi, có hai dịp Ngài đã bố thí những bài giảng về Chân lý tối thượng. Lần thứ nhất là tại Vaishali, nơi Đức Phật chủ yếu tập trung giảng về Phật tính (tức khả năng vốn có của tất cả chúng sinh trong việc đạt được trí tuệ như Đức Phật). Lần thứ hai, Đức Phật giảng về Kim cương thừa, và sau cùng, Ngài giảng về việc làm thế nào để khai mở Phật tính bên trong.

9 Ẩn dụ về Phật tính

Trong những bài giảng này, Đức Phật đã dùng 9 ví dụ để minh họa Phật tính tồn tại như thế nào trong dòng chảy tâm thức của mọi chúng sinh hữu tình. Các ví dụ đó là: Đức Phật đản sinh trong đóa sen, những con ong trong tổ ong, hạt được bọc trong lớp vỏ cứng, quặng vàng trong đất, kho báu dưới lòng đất, gieo hạt sẽ có ngày hái quả, một bức tượng Phật bọc trong tấm giẻ rách, một vị vua hoài thai trong bụng một người phụ nữ xấu xí và một báu vật chôn trong lòng đất.

Để cho nhiều người có cơ hội được đón nhận giáo pháp đặc biệt này, Đức Phật đã đi đến nhiều địa điểm khác nhau và thuyết pháp chủ yếu cho các hành giả Đại Thừa, ví dụ như các Bồ Tát là bậc có thể thấu triệt được ý nghĩa thâm sâu của các bài giảng.

Trong lần chuyển pháp luân thứ ba, Ngài đã giảng về Phật tính từ góc nhìn thanh tịnh và sáng rõ, chẳng qua Phật tính tạm bị che khuất, như ánh mặt trời bị mây đen bao phủ. Đức Phật khuyến khích các đệ tử hãy kiên nhẫn và bền lòng bởi Phật tính có thể hiển lộ bất cứ lúc nào nếu một người đã trưởng dưỡng trí tuệ và kiến thức.

Nhiều đệ tử của Ngài đều thấy thoải mái và bớt căng thẳng khi Đức Phật cam đoan với họ rằng họ không cần phải cảm thấy tội lỗi hay nản lòng. Họ đơn giản chỉ cần tin chắc rằng họ có đầy đủ phẩm chất và khả năng trở thành Phật.

Giáo pháp Kim Cương thừa

Khi đức Phật khoảng bảy mươi chín tuổi, Ngài giảng về Kim Cương Thừa lần thứ hai, với những bài giảng sâu hơn về bản chất của tâm. Qua việc thực hành Mật thừa, ý thức có thể được chuyển hoá để trở thành nhận thức thanh tịnh và sống động bằng cách quán tưởng và trì tụng chân ngôn. Trạng thái nhận thức thanh tịnh này được coi là sự hợp nhất giữa sự quang minh, sáng rõ và Tính không. Đó là một trạng thái nhận thức cần phải được trải nghiệm thì mới có thể hiểu bởi lẽ nó siêu vượt tư duy khái niệm thông thường.

Đức Phật còn thuyết giảng về sáu phạm trù của Mật Pháp: bí mật của nghiệp, bí mật của hành tướng, các thứ lớp thực hành tantra, tantra mẫu tính, tantra phụ tính và tantra hợp nhất.

Những địa điểm và thính chúng trong lần chuyển pháp luân thứ ba

Không có các tài liệu chính xác về địa điểm huân tập nghe bài pháp cuối cùng của Đức Phật bởi vì Ngài đi giảng pháp ở rất nhiều nơi, bao gồm cả núi Malaya ở Srilanka, núi Sumeru, Odiyana ở Pakistan, Dhanakata ở miền Nam Ấn Độ, cõi Thiên Long trong Thế giới loài Rồng, cả cõi Trời và Vaishali, một trong số các thánh địa Ngài đã tới thuyết Pháp.

Tham dự chúng hội có rất nhiều chúng sinh khác nhau, bao gồm cả chư thiên, Thiên long, giới tăng ni xuất gia, các vị vua, loài người và các vị Bồ Tát. Đức Phật đã giảng về Mật Pháp dưới hình thức những bài giảng về Kim Cương Thừa bí mật cho các Bồ Tát trí tuệ siêu phàm là những bậc chỉ qua một lần tái sinh đã đạt được giác ngộ toàn hảo. Trong số các bậc Bồ Tát ấy có Đức Kim Cương Thủ, Di Lặc Bồ Tát, Quán Âm Bồ Tát và Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Các vị trời Phạm Thiên, Đế Thích cũng có cơ duyên đón nhận những giáo pháp này.

Trong số những hoạt động cuối cùng của Ngài, Đức Phật đã bố thí và truyền trao trọn vẹn giáo pháp dẫn đến giải thoát trong nghi thức Thời Luân Kim Cương cho Vua Subhadra, khi ấy 99 tuổi, tại thành phố Dhanakata miền Nam Ấn Độ. Trong dịp này, Đức Phật thị hiện trong hình tướng một vị thần để ban truyền mật pháp.


Mandala Thời luân Kim cương

Thần Shiva là một trong số các đối tượng được truyền Thời Luân Kim Cương. Sau khi được trao truyền quán đỉnh, để tỏ lòng biết ơn đối với các giáo pháp mà Đức Phật truyền dạy, Thần Shiva đã cúng dường người con trai út của mình cho Đức Phật. Chàng trai có tên gọi là Hắc Tử vì chàng có làn da màu đen.

Mandala Thời Luân Kim Cương bằng cát được trưng bày ngoài trời, không che phủ để ban gia trì đến cho vô số chúng sinh tín tâm. Rất nhiều chúng sinh từ ba cõi đã đến chiêm bái, và tất cả những ai có phúc duyên chiêm bái Mandala Thời Luân Kim Cương đều được giải thoát. Một số lần sau đó, bốn vị Thiên đã thỉnh cầu vị thần Kiến trúc Tỳ Thủ Yết Ma xây một mái che để che Mandala. Nơi này trở thành một địa chỉ hành hương nổi tiếng cho chúng sinh từ khắp các cõi. Những ai phúc duyên chiêm bái Mandala này đều có thể tịnh hóa những nghiệp bất thiện đã tạo tác và chứng đạt giác ngộ.

(Nguyên tác: "Journey to Liberation - A life story of Buddha in Mahayana tradition"

Nhóm ĐBT biên dịch)

 

Viết bình luận

Chúc mừng năm mới
Copyright © 2015 daibaothapmandalataythien.org. All Rights Reserved.
Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Email: daibaothapmandalataythien@gmail.com

Đăng ký nhận tin mới qua email
Số lượt truy cập: 3117525
Số người trực tuyến: