Lược giải Kinh Hoa Nghiêm (HT Thích Trí Quảng) - Chương 5
Thứ sáu, 15/04/2016, 09:49
LƯỢC GIẢI KINH HOA NGHIÊM
HT Thích Trí Quảng
CHƯƠNG V.
PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI
Bồ tát đi vào đời dưới dạng pháp giới được kinh Hoa Nghiêm diễn tả bằng hình ảnh Thiện Tài cầu đạo gặp 53 thiện tri thức. Tôi đọc phẩm Nhập Pháp giới, suy nghĩ và theo dấu chân Thiện Tài, quan sát xem Thiện Tài làm gì, rồi nhìn kỹ lại mình xem đã học được và có thể làm được gì, để nhắc nhở các pháp lữ cùng nhau tu hành.
Mở đầu hiện tượng nhập pháp giới, Xá Lợi Phất hướng dẫn 6000 Tỳ kheo đến Bồ đề đạo tràng nghe Phật thuyết pháp, nhưng không thấy Phật, nên đến rừng Thệ Ða, ở Ta La song thọ để tìm.
Từ Bồ đề đạo tràng đến Ta La song thọ gợi cho chúng ta nghĩ về một đời giáo hóa của Ðức Phật, nếu nhìn dưới dạng tâm linh sẽ khác với cách nhìn theo lịch sử.
Theo lịch sử, sinh hoạt của Phật giáo đạt đến đỉnh cao vào thời điểm mà trưởng giả Cấp Cô Ðộc đổi vàng lấy đất để xây tinh xá cúng dường Phật. Hoặc lúc vua Ba Tư Nặc hết lòng hộ đạo, kính trọng Tăng đoàn.
Ngài Hiền Thủ gọi thời kỳ cực thạnh mà mọi người đều quy ngưỡng Ðức Phật là "Nhựt thăng phổ chiếu". Nghĩa là mặt trời lên đến đỉnh đầu sẽ chiếu tận hang cùng ngõ hẻm, ai cũng được hưởng phước lạc của Phật pháp. Nhưng khi có nhiều người đến với Phật đạo vì danh lợi thì đương nhiên nổi lên những thành phần không tốt. Mầm mống suy đồi đã xuất hiện trong thời kỳ vàng son. Ðiển hình là nhóm lục quần Tỳ kheo chuyên gây rối ở thành Xá Vệ.
Tuy nhiên, theo nhãn quan của Bồ tát thì thấy khác, không thấy tốt xấu như trên. Bồ tát thấy ở dạng siêu hình. Sở dĩ vua chúa phát tâm, hàng trí thức quy ngưỡng và Tỳ kheo theo Phật đông là nhờ tác động vô hình của Phật, Bồ tát, chư Thiên, thiện thần ủng hộ. Chính sức mạnh siêu nhiên này mới tạo thành cảnh giới bình yên thật sự cho đại chúng tu học, hình thành pháp giới của Phật.
Trên bước đường tu, chúng ta cần thấy và phát huy được mặt siêu nhiên của đạo. Nếu chỉ thấy hình thức, chùa cao Phật lớn, thì cách đạo còn xa. Bồ tát thấy thế lực vô hình thu hút vua chúa, trí thức Bà la môn, chư Thiên đến với Phật, hình thành pháp giới để thâm nhập.
Trong hàng Thanh văn chỉ có Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ bậc nhất mới thấy được thế lực siêu hình của Phật thật sự vô cùng tận, có khả năng che chở cho người phát tâm bồ đề và nuôi dưỡng mạng mạch Phật pháp. Thật vậy, Xá Lợi Phất biết rõ năng lực của baûn thân không làm gì nổi. Việc lớn thì phải nhờ tâm hồn lớn và khả năng lớn mới thực hiện được.
Xá Lợi Phất thấy điều ấy bằng tuệ giác và 500 La hán cùng đi với Ngài, thì thấy bằng niềm tin. Ðó là hai cách thấy đạo và thâm nhập đạo.
Trên bước đường tu, khi thấy được đức độ của Phật, ta tin Phật dễ dàng. Nếu không, cũng có thể dùng niềm tin để đến với Phật. Như tôi tin Phật gia bị cho mình thành tựu mọi việc, không phải do tài của tôi. Một số người thường nghĩ tự thắp đuốc đi. Theo tôi, Phật là người cầm đuốc soi đường và ta nương theo ánh đuốc của Ngài, ta tự thắp không được.
Xá Lợi Phất bảo 500 La hán nên biết Văn Thù Sư Lợi Bồ tát cũng như phần lớn các Bồ tát đóng vai cư sĩ, nhưng thật sự các Ngài đóng vai trò quan trọng trong việc hộ đạo. Ðừng nghĩ rằng cư sĩ không bằng hàng nhị thừa. Phải thấy từ chư thiên, chư Thần, nhân vương, người trí thức, người giàu coù, thậm chí cả công nhân, thợ thuyền, v.v... Họ đều có thể là Bồ tát hiện thân lại trên cuộc đời để hộ đạo, tạo điều kiện cho các Tỳ kheo tu hành. Như vậy, hàng nhị thừa đã thọ ơn của Bồ tát.
Nhận thức điều này, Hoøa thượng Trí Tịnh cho biết Ngài rất ngại dự trai tăng, vì sợ rằng trong hàng cư sĩ cúng dường, quỳ lạy, nếu có Bồ tát hiện thân lại, thì Ngài bị tổn phước.
Lời Hòa thượng dạy làm chúng ta phải suy nghĩ. Trên thực tế, chuùng ta thấy trong giới Phật tử có thành phần trí thức như giáo sư, bác sĩ.., trình độ học thức hơn ta và về phước báo, họ cũng giàu có hơn ta, nếu ta không mặc áo tu. Khi thực sự phát bồ đề tâm, chúng ta phải thấy như vậy.
Ở đây mượn nhân vật Xá Lợi Phất, dùng trí tuệ bậc nhất, dắt chúng nhân từ Bồ đề đạo tràng đến Ta La song thọ, không phải nhằm diễn tả dẫn đi baàu7857?ng đường bộ, theo động tâm. Nhưng hàm ý rằng Xá Lợi Phất dạy các Tỳ kheo nên quan sát, theo dõi bước chân Phật từ thành đạo đến nhập Niết bàn, Ðức Phật đã làm gì. Phải nhìn suốt cuộc đời du hoá của Phật để học và làm theo.
Ðến rừng Thệ Ða không thấy được Phật đang phô diễn thần lực, nói khác không gặp Phật mà lại gặp Văn Thù Sư Lợi đang giáo hoá chúng sinh. Ðiều này cũng nhằm chỉ rằng trước kia chúng ta quen quan sát theo lịch sử. Nhưng nay cần quan sát việc làm của Phật ở dạng Văn Thù hay dùng trí tuệ xem Phật xử trí với cuộc đời như thế nào.
Phẩm Nhập Pháp giới phát xuất từ rừng Thệ Ða. Kinh diễn tả do thần lực của Phật mà rừngThệ Ða rộng lớn bằng vô số quốc độ của Phật. Nơi đó lại có vô lượng hoa báu, đài báu, lưới báu, diệu hương, kỹ nhạc để ca ngợi công đức Phật.
Theo tôi, mỗi người có cách nhìn riêng về khu vườn này. Người thế gian, ngoại đạo nhìn về khu vườn chắc chắn khác với cái thấy của Tăng Ni, tín đồ. Và hàng Bồ tát sống trong khu vườn lại càng thấy khác hơn nữa. Cảnh là một, nhưng tâm trí khác nhau, nên nhận xét không giống nhau.
Theo nhận thức tham vọng của người đời hay ngoại đạo, họ không hiểu tại sao đạo Phật không có giáo quyền, giáo sản, không ép buộc, đe dọa, dụ dỗ, mà lại tồn tại lâu dài, truyền bá rộng rãi. Không hiểu tại sao giàu có như Cấp Cô Ðộc lại cúng vàng xây tinh xá cho Phật mà chẳng thấy ông được quyền lợi gì.
Cách nhìn thứ hai của Thánh chúng thường được diễn tả bằng câu chỉ có người uống nước mới cảm nhận được mùi vị như thế nào. Người ngoại cuộc như phàm phu, ngoại đạo mang cặp kính nghiệp làm sao biết được. Hàng đệ tử theo bằng chân tình mới hiểu đạo Phật, theo do hoàn cảnh không thể sống lâu dài trong đạo.
Chỉ người tu chân chính mới thấy Phật và Thánh chúng ngồi yên lặng trong rừng Thệ Ða, không nói, không làm, nghĩa là tu Thiền. Ngồi như vaäy, họ hiểu được Phật. Ngồi mà không hiểu thì một lúc chán cũng bỏ đi, ngoại đạo khó thâm nhập Phật đạo là vậy.
Phật và Thánh chúng tọa Thiền tạo thành cuộc sống hỷ lạc, ngồi nhiều năm cũng cảm thấy không đủ, không chán. Thật tu chúng ta dễ hiểu điều này. Người say mê Thiền quán, vui thích chánh pháp mới thấy được những gì khác hơn người thường. Họ đắc đạo nên tâm họ và Phật cảm thông, đó là tâm Phật ấn tâm đại chúng và thaàn của Phật truyền qua đại chúng, kinh gọi là Phật phóng quang gia bị. Nhờ vậy, tâm họ yên tĩnh lạ lùng, thần họ minh mẫn, sáng thêm. Theo tôi, điểm này quan trọng nhất đối với người tu, nếu không cảm nhận như vậy, e rằng khó tu lâu. Cuộc đời tôi từng kinh nghiệm, khiến tôi nhận chân được giá trị Phật ấn tâm, Phật hộ niệm. Thật vậy, có những lúc cực kỳ khó khăn, nguy hiểm, người sợ, nhưng tôi rất tỉnh táo, không cảm thấy sợ bất cứ theá lực nào. Và tôi bình tâm giải quyết thoả đáng từng việc thích hợp với từng lúc.Thiết nghĩ, trên bước đường tu, gặp việc vui ta vui, gặp buồn ta buồn, thì dù có khoác áo tu sĩ cũng chưa hẳn là người tu. Vì điểm đặc bieät của người tu, tâm lúc nào cũng bình ổn, hoàn cảnh nào cũng tự tại, loé lên tia sáng để giải quyết việc khó.
Thánh chúng sống đạm bạc, không có quyền lợi gì, nhưng hoàn toàn an vui. Ðó chính là tinh thần Ðại thừa phát triển để hình thành thế giới quan của Hoa Nghiêm gọi là Nhập Pháp giới. Tại sao sống hẩm hiu, tu cực khổ nhưng có sức thu hút người tu chịu nổi. Thực tế, người an trú lâu trong đạo có nguồn vui riêng và lý tưởng để soáng. Còn người thường không tìm thấy niềm vui đạo, tu một lúc rồi cũng bỏ cuộc.
Người tu sĩ Nhật có câu phương châm : Khi tâm hồn yên tĩnh thì cái thấy của chúng ta sáng ra, thấy cái đẹp. Thế giới người tu đạt đến trạng thái tâm hồn yên tĩnh, sáng ra là thế giới của Hoa Nghiêm hay pháp giới. Và với tâm hồn Hoa Nghiêm nhập pháp giới, phóng khoáng, bao la, dung được các pháp, tất cả đều đẹp. Từ đó, dưới cái nhìn theo Hoa Nghiêm, Thánh chuùng ngồi xung quanh Phật dưới gốc cây, tâm hồn nhẹ nhàng, sung sướng, hình thành được thế giới đẹp, trong sáng, từ cọng cỏ, cho đến dòng suối, con cá, con chim, hòn đá... không có gì không đẹp. Hàng trí thức bỏ ngoại đạo trở về theo Phật cũng vì nhận được hạnh phúc vô giá ấy. Họ cảm đức của Phật, nhận được tình thương bao la của Ngài và Thánh chúng tạo thành thế giới an vui giải thoát. Trái lại, theo ngoại đạo họ luôn kẹt trong tham vọng, nghĩ đến khống chế, mua chuộc người, nên tâm hồn không yên tĩnh thì thế giới của họ luôn đen tối.
Ðức Phật không bắt ai theo, người tự nguyện theo Ngài vì họ được an lành, thanh thản. Nhập pháp giới hay đi vào thế giới bao la của Phật, thế giới của tình thương, của trí tuệ. Bấy giờ, cũng là rừng Thệ Ða mà hàng nhị thừa và Phật tử thấy nơi đó an lành nhất, hoàn toàn khác với thế giới khổ đau bên ngoài. Ðó là cái nhìn về Ðức Phật vào đạo Phật của người xuất gia và tín đồ.
Tiến hơn một nấc, cái nhìn của bậc cứu thế Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền Bồ tát tiêu biểu cho trí và hạnh đi vào cuộc đời. Trong thêá giới yên tĩnh, tâm sáng, tức trí Văn Thù chỉ đạo, mở ra cho chúng ta thấy nơi có đạo đáng quý hơn bất cứ nơi nào. Và nhìn xa hơn, thấy mọi việc trên cuộc đời tốt đẹp hay không đều do phước đức, trí tuệ quyết định. Thấy như vậy là thấy thế giới Báo thân của Phật hieän ra. Trí Văn Thù hướng dẫn kết hợp với hành động dấn thân vào đời làm lợi ích chúng sinh của hạnh Phổ Hiền, tạo thành kinh Hoa Nghiêm với phần quan trọng là Nhập pháp giới.
Ðức Phật cho biết mười phương Phật thuyết pháp đều phóng quang đến đỉnh đầu của VănThù Sư Lợi Bồ tát. Văn Thù tiêu biểu cho Trí thân Phật, một thân quan trọng theo kinh Hoa Nghiêm. Nhìn thế giới qua lăng kính của Văn Thù hay trí tuệ, khác với người tham vọng nhìn đời bằng cặp kính hẹp của vô minh.
Người vô minh, chấp trước nghe ai nói động tới là tự ái, nổi giận, mất khôn. Trái lại, người trí thế gian lắng nghe, suy nghĩ xem lời nói của người tác động có hại hay lợi cho họ, theo đó mà giải quyết. Ðiển hình như các chính khách Nhật gặp khó thường tĩnh tâm để sáng suốt, thấy được cách đối phó nào lợi nhất. Ðó là người trần gian dùng thủ đoạn chọi với thủ đoạn.
Nhưng cao hơn là cách xử trí của Phật, Bồ tát, thấy rõ mối liên hệ sâu xa của họ và người trong vô lượng kiếp trước và cả đời sau, nên chuyển hoá khổ, ác thành vui, tốt. Muốn như vậy, Ðức Phật phải trải qua quá trình tu Bồ tát đạo, chứng được Trí thân, hay trí tuệ viên mãn mới giáo hoá người trở nên sáng suốt, đạo đức và biến đổi thế giới trần lao ô nhiễm của họ thành pháp giới của Phật. Từ Trí thân Phật đầu tư cho hữu tình và vô tình chúng sinh, biến tất cả thành một phần tương ưng với Phật, gọi là Pháp thân. Trí thân và Pháp thân ấy hợp lại thành Tỳ Lô Giá Na Phật chi phối và điều động được muôn người, muôn vật trong vũ trụ.
Về phần chúng ta, vì vô minh, sống với nghiệp thân, giải quyết theo nghiệp và phiền não, nên phiền não cứ lần lần bao vây, xiết chặt ta lại. Ðầu tiên, ta chỉ đối phó với người bên ngoài và với hoàn cảnh xa, nhưng vì vô minh chi phối, lần lần thế lực xấu ác thâm nhập vào gia đình, làm con cháu, phá hại chúng ta đến tàn mạt. Thực tế lịch sử cho thấy rõ điều này. Một người mới dựng nghiệp có nhiều quyến thuộc tốt, trung thành, nhưng vì nghiệp ác, khiến họ hành động ngu muội, giết lần những người thân cận giỏi, trung tín. Cuối cùng chỉ còn thế lực ác theo họ và sử dụng độc ác để đối phó, chống lại họ.
Ðức Phật thì hoàn toàn khác hẳn. Ngài hành động theo trí tuệ và lòng từ bi vô hạn nên càng cứu độ chúng sinh, tình thương Ngài càng mở rộng. Người đã thương Ngài thì thương nhiều hơn, người không thương phải thương, người ghét thì thành người thương.Xá Lợi Phất nhắc đại chúng phải quan sát việc làm của người trí, kinh diễn tả phải nhìn viên quang của Văn Thù Sư Lợi. Viên quang là trí tuệ tuyệt luân của Văn Thù, Ngài hiểu biết mọi việc.
Ý này gợi nhắc chúng ta tu hành, phải nhìn lại giới cư sĩ, có người đáng kính trọng là bậc thầy cuûa ta. Trên thực tế, có cư sĩ Lê Ðình Thám là thầy dạy chư Tăng. Nhưng trước khi dạy, ông đảnh lễ chư Tăng. Quả thật, có thể nói trí tuệ và đức hạnh của ta không bằng bác Thám. Tuy nhiên, không phải tất cả cư sĩ đều là Bồ tát. Phải biết rằng Bồ tát hiện thân vào nhân gian thì khác hẳn người thường. Họ giàu sang, thông minh, nhưng rất đức hạnh.
Xá Lợi Phất nhìn thấy viên quang của Văn Thù, tức trí tuệ của Văn Thù vượt hơn Thanh văn nhiều. Kinh diễn tả là viên quang bất muội, nghĩa là ánh sáng trí tuệ của Văn Thù không bao giời tắt, phiền não không bao giờ nổi dậy. Còn nhận định của chúng ta không phải lúc nào cũng sáng suốt, hễ nổi giận là mờ ám ngay.
Trí tuệ của Văn Thù siêu tuyệt, thấy sự việc chính xác, làm việc hoàn hảo. Những thành quả tốt đẹp hoàn toàn do tâm trí chỉ đạo như vậy, ảnh hưởng đến thân tướng, tạo thành thân Bồ tát có tướng hảo trang nghiêm thanh tịnh, không tội lỗi, bợn nhơ, buồn phiền, nhưng đáng quý, đáng nhìn.
Ðặc điểm thứ ba là quang võng của Bồ tát Văn Thù bao trùm chúng sinh, tức trí tuệ của Ngài ảnh hưởng cho chúng sinh được giải thoát. Trong khi trí tueä của Thanh văn chỉ làm cho bản thân họ được giải thoát mà thôi. Chính nhờ tác động của trí Văn Thù phổ cập toàn diện, nên việc giáo hóa chúng sinh của Ngài không cùng tận.
Ðặc điểm kế tiếp của Bồ tát là có được chúng hội đạo tràng khác hẳn chúng hội của Thanh văn. Phần lớn theo Thanh văn đạo, không quan tâm đến vật chất, cơm ăn, chỗ ở. Thực tu như vậy, chúng hội Thanh văn được thanh tịnh, nhưng nghĩ đến vật chất thì phiền phức vô cùng, khó tránh khỏi tranh chấp.
Chúng hội Bồ tát hay quyến thuộc của Văn Thù thì khác, họ là người hằng tâm hằng sản chuyên cúng dường, đầu tư trí tuệ và công sức cho Phật đạo.
Chúng hội Thanh văn, sau an cư, làm pháp yết ma, phân chia vật dụng. Còn quyến thuộc của Bồ tát thì kết hợp lại để cúng cho Thanh văn hưởng. Người làm, ta hưởng, thì phước sẽ về họ.
Xá Lợi Phất nhắc nhở đồ chúng, hay đó là tinh thần Phật giáo Ðại thừa muốn chấn chỉnh việc tu hành của giới xuất gia, không khéo rơi vô tình trạng chỉ tiêu thụ hơn là đóng góp. Hãy quan sát Văn Thù Sư Lợi xây dựng quyến thuộc lo cho đạo, không lo hưởng thụ, mới thành tựu được những Phật sự lơùn lao, mới giữ vững được mạng mạch đạo pháp.
Kế đến, Xá Lợi Phất bảo đại chúng nên quan sát con đường đi của Bồ tát Văn Thù khác với đường của Thanh văn đi. Văn Thù Sư Lợi đi đến đâu đều làm lợi ích, cứu khổ ban vui, nghe chỗ nào có nghèo khổ, hoạn nạn thì chuẩn bị cơm áo đến ban phát. Bồ tát bố thí, cúng dường là việc chính, không đến để nhờ vả. Ðó là lập trường cố hữu của Phật giáo Ðại thừa.
Ngày nay, chúng ta đi theo con đường của Bồ tát Văn Thù, là con đường mà không có đường. Nghĩa là mỗi người tự vạch ra con đường cho mình. Tôi gọi đó là đường đời hay cách hành xử khéo léo của chính mình, mọi việc đều nhằm mục tiêu mang an vui hạnh phúc cho đời.
Riêng tôi thường quan sát đường đi của Phật, của các bậc cha anh, của đồng bạn, của người thuộc giới khác. Từ đó tự vẽ ra con đường riêng của tôi và điều chỉnh dần cho phù hợp với bước đi của Văn Thù.
Con đường của người chinh lược đầy máu xương, nước mắt, con đường của Thanh văn tu vất vả khổ cực mà không được gì. Chỉ có con đường của Bồ tát, của Phật quá đẹp, quá trong sáng và vĩnh cửu. Thiết nghĩ đó là khởi niệm của chúng ta cũng như của đại chúng muốn theo Xá Lợi Phất đến gặp Văn Thù Sư Lợi.
Ðặc điểm thứ sáu là chỗ đứng của Bồ tát Văn Thù rất dễ thương. Ngài là thầy của ba đời các đức Phật, nhưng đến với Phật, tức học trò của Văn Thù, Ngài lại đứng chỗ thấp nhất, cung kính cúng dường học trò.
Học gương của Văn Thù, khi hành Bồ tát đạo, dù năng lực ta vượt hơn người, nhưng nếu cần làm việc nhỏ có lợi cho đạo, ta cũng không từ chối. Phải khiêm tốn, đừng tự coi mình xuất gia là thầy của thiên hạ.
Văn Thù Bồ tát đóng vai thấp nhất, nhưng ai dám xem thường Ngài. Chỉ sợ mình đứng trên cao, mà đức hạnh và tài năng không bằng ai, mới đáng hổ thẹn. Tu Ðại thừa, phát tâm bồ đề, làm mọi việc Phật sự, không từ nan. Ðứng ở vị trí thấp có cái lợi là luyện được tâm cung kính người khác.
Ðặc điểm thứ bảy là hai bên Văn Thù có vô số Bồ tát hết lòng hợp tác với Ngài trong mọi Phaät sự. Ðiều này cho thấy hạnh Bồ tát khác hẳn Thanh văn. Tu hạnh Thanh văn, chỉ lo phần mình, không lo cho người, tất nhiên khó làm được việc.
Văn Thù Bồ tát đã giáo dưỡng đệ tử thành Phật, những người được Ngài cưu mang tế độ sẵn sàng đến hợp tác khi Ngài cần họ. Văn Thù hành Bồ tát đạo, "nhứt hô bá ứng", toàn người giỏi,tốt, đầy quyền uy kính nể, hợp lực với Ngài, việc khó nào mà không thành. Còn ta có một mình, hay chỉ có ngươøi ăn hại theo, đành phải thua.
Chẳng những người trí thức, dòng dõi cao quý, trời rồng phủ phục dưới chân Văn Thù, mà còn có chư Thiên đến cúng dường, nhân vương kính trọng. Bồ tát được việc là vậy. Chư Thiên cúng dường nên kho báu của Ngài không bao giờ cùng tận. Vua phải kính trọng vì Ngài giải quyết được việc cho chúng sinh.






