Lược giải Kinh Hoa Nghiêm (HT Thích Trí Quảng) - Chương 6
Thứ sáu, 15/04/2016, 09:54
LƯỢC GIẢI KINH HOA NGHIÊM
HT Thích Trí Quảng
CHƯƠNG VI.
PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI
PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Kinh Hoa Nghiêm có vi trần số bài kệ do Tỳ Lô Giá Na Phật thuyết. Tỳ Lô Giá Na chỉ cho Pháp thân Phật thông được tất cả thật tướng pháp. Vì vậy có bao nhiêu tâm tánh, hành nghiệp, suy nghĩ của chúng sinh trong tất cả loài nhiều như vi trần thì Tỳ Lô Giá Na đều tác động đến và thể hiện thành những bài kệ tương ưng.
Thấp hơn một nấc là kinh Hoa Nghiêm bậc trung do Báo thân Lô Xá Na Phật thuyết gồm 498.800 bài kệ. Bồ tát do cảm tâm nên nghe được, còn phàm phu và cả hàng nhị thừa hoàn toàn tuyệt phần.
Và sau cùng là bộ kinh Hoa Nghiêm do Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết, có 100.000 bài kệ, được tàng trữ trong cung rồng Ta Kiệt La và phải đợi đến khi Bồ tát Long Thọ ra đời, Ngài nhập định xuống long cung, mới đọc được. Sau khi xả định, Ngài ghi lại để lưu truyền đời sau. Và truyền đến Trung Hoa thì gồm có tứ thập, lục thập và bát thập Hoa Nghiêm. Ở Việt Nam thì sử dụng bộ bát thập Hoa Nghiêm gồm 39 phẩm, 80 quyển.
Kinh Hoa Nghiêm dài và hạnh Phổ Hiền cũng nhiều, nhưng lược lại có 61 bài kệ. Tuy nhiên, theo Phổ Hiền Bồ tát, đây là cửa ngõ để chúng ta thâm nhập thế giới Hoa Nghiêm. Vì vậy, tuy ít nhưng là tinh yếu thì mỗi ngày trì tụng 61 bài kệ này đúng như pháp, trí tuệ chúng ta phát sinh, mở rộng tầm nhìn xa, giúp ta thâm nhập pháp giới Hoa Nghiêm.
Ở đây, chỉ trích giảng một số bài kệ trong Phổ Hiền hạnh nguyện mà chúng tôi tâm đắc.28 bài kệ đầu tiên chủ yếu nói về sám hối tội chướng và tu tập các hạnh lành. Ðó là điều quan trọng của người tu, vì không sám hối tội lỗi, nên thường luôn gặp chướng ngại trên bước đường tu.
Phần lớn chúng ta thường cho rằng chướng ngại, chống phá đến từ bên ngoài, mà không nhận ra đó là nghiệp của chúng ta. Người thực dạ tu hành cần phát hiện nghiệp chướng bên trong mình bằng cách nhìn thái độ đối xử của người, vì đó là tấm gương tốt nhất phản chiếu nghiệp ác của chúng ta.
Theo Phổ Hiền Bồ tát: "Từ xưa đã tạo nhiều nghiệp ác. Ðều vì ba độc tham, sân, si. Từ thân khẩu ý mà gây nên. Tất cả nay tôi đều sám hối". Từ vô lượng kiếp trước đến nay, chúng ta tạo tội hoặc vô tình hoặc cố ý. Xét riêng về phần vô tình tạo tội cũng đã nhiều, vì có nghiệp rồi thì nghiệp tự động sinh thêm, dù ta không muốn. Thí dụ như chúng ta có bộ mặt khó thương, người nhìn thấy liền có ác cảm. Dù chúng ta có muốn kết thân, họ cũng không cần, phải biết đó là túc nghiệp đời trước của chúng ta.
Vì vậy, đã mang nghiệp rồi rất khó tu. Chúng ta phải siêng năng sám hối cho tiêu nghiệp mới có thể tiếp cận mọi người được vì còn nghiệp thì caøng tiếp xúc nghiệp ta càng tăng. Ngài Huệ Tư dạy rằng khi người không ưa ta, chính là không ưa cái nghiệp của ta. Nhưng khi tạo được phước rồi, người thương, tức họ thương cái phước của chúng ta. Ý thức như vậy, chúng ta cố gắng tu tạo phước để xóa lần nghiệp chướng trần lao.
Theo Phật hay Phổ Hiền Bồ tát, bồ đề tâm tức trí tuệ là trên hết. Tu cùng kiếp mà không có bồ đề tâm chỉ đạo, công phu cũng thành vô ích. Muốn có trí tuệ, chúng ta phải học, phải suy nghĩ, phải làm mà kinh thường gọi là huệ học.
Thể hiện tinh thần này, chúng ta tụng kinh, nghe pháp, suy nghĩ, làm lợi ích cuộc đời là sám hối. Không phải cứ lạy Phật suông, vì dùng thân vật chất để lạy khối xi măng, muôn đời không được gì. Như pháp sám hối, chúng ta nhìn tượng mà hình dung ra Phật thật, gợi ta nhớ đến tư tưởng thánh thiện của Phật mà tập suy nghĩ theo Phật, nhớ đến hạnh đức cao quý của Ngài mà tập làm theo Ngài.
Ðối với tôi, tu huệ là chính trong cuộc sống. Ðọc kinh, suy nghĩ, tìm hiểu và ứng dụng đúng pháp thì nghiệp tiêu và công đức sinh ra và tăng trưởng.
Không sám hối tiêu nghiệp, việc làm chúng ta cũng thành vô ích. Sám hối theo Phổ Hiền phải tiêu nghiệp, phước mới sinh. Phước lớn mới được làm bạn với Bồ tát và tu hành theo Bồ tát. Ðiều này chúng ta dễ thấy, trên thực tế người ác xấu luôn có bạn ác. Vì thế, khi người xaáu đến với ta, phải tự biết chúng ta cũng còn ác xấu.
Muốn gần gũi Thánh Hiền, chúng ta phải tập ngôn ngữ, hành động của Thánh Hiền. Ðược như vậy, chúng ta không đến, các Ngài cũng đến với ta. Ý này thường được diễn tả là những tâm hồn lớn thường gặp nhau.
Bài kệ tiếp theo:
Khi tôi tu học đạo bồ đề, trong các loài đều biết túc mạng, thường được xuất gia tu tịnh giới, không nhơ, không lỗi, cũng không hư.
Tu học đạo bồ đề tức phát triển trí tuệ của mình. Ðạo Phật cũng gọi là đạo bồ đề, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Trên bước đường tu, phát huy được trí tuệ thì phải nhớ túc mạng, không bao giờ quên. Như tôi luôn nhớ mình xuất thân từ nhà quê, chăn trâu, chăn vịt, bé xíu đã phải lao động, cực khổ. Hoặc nhớ nhiều kiếp trước mình cũng từng làm gà vịt. Nhớ túc mạng khổ sở như vậy, chúng ta nỗ lực tu để đừng rớt xuống cảnh sống khốn cùng ấy nữa và cũng để giúp người cùng đi lên.
Về túc mạng, Ðức Phật nhớ thấu suốt vô lượng kiếp, A la hán nhớ được vài mươi kiếp. Còn chúng ta ít nhất cũng phải nhớ được ba đời mới không đọa. Chúng ta có thể đoán biết đời trước bằng cách quan sát đời này. Thí dụ Ðức Phật nói tiền kiếp của Kiều Phạm Ba Ðề là trâu, nên đời này ăn cứ nhơi. Nhìn tánh người, cách xử thế của họ, tuy mang thân người nhưng không có nhân tính là biết tiền nghiệp họ từ loài khác sinh lại. Hoặc chư Thiên đoạ xuống mang thân người, nhưng cách sống của họ sang trọng và quen tánh tiêu xài thì đời sau lại khổ nữa; Ðức Phật dạy chư Thiên đoạ sâu khó lên là như vậy.
Biết đời trước và sợ bị tuột xuống thì mới quyết tu; không biết túc mạng, không hết lòng thì suốt đời tu cũng không được gì. Trên bước đường tu, cố gắng giữ cho trong sạch, không lỗi lầm, vì phạm nhiều sai trái, đại chúng không chấp nhận, làm sao tu được.
Theo tinh thần Ðại thừa, chúng ta phải trải qua nhiều đời tu tập, không phải chỉ có một kiếp. Trong dòng sinh mạng tương tục, chúng ta tái sinh trong các loài. Nhưng sống trong loài nào, cũng nhớ hạnh nguyện Bồ tát, thường xuất gia tu tịnh giới.
Nếu có nguyện độ người giàu sang, quyền uy thì sinh làm đế vương; muốn độ giai cấp nghèo thì sinh vào nơi biên địa hạ tiện. Tuy nhiên, đóng vai tể tướng, vua chúa hay nghèo cùng, ta cũng đều nhớ đó là nguyện của ta, không quên tịnh hạnh độ sinh và nguyện đời đời kiếp kiếp tu Bồ tát đạo để viên mãn hạnh Phổ Hiền.
Sau phần sám hối, bài kệ tiếp theo:
Những người cùng tôi đồng một hạnh,Cầu được sinh chung các cõi nước,Thân khẩu ý nghiệp đều đồng nhau,Tất cả hạnh mầu cùng tu tập.
Trên bước đường tu, chúng ta biết quả bồ đề thuộc về chúng sinh. Rời bỏ chúng sinh, không thể nào đạt quả bồ đề. Vì vậy, chúng ta phải lấy hạnh nguyện độ sinh là chính. Tuy nhiên, muốn cứu độ người, một mình ta không thể làm được. Phải cần nhiều người hợp tác, nhưng nếu số đông mà lại ô hợp thì không giúp ích gì, càng hại ta hơn. Chín người, mười ý, chắc chắn ta không thể làm được, chúng hội phải tan rã.
Muốn việc làm thành công nhẹ nhàng, chúng ta theo gót Phổ Hiền Bồ tát, cầu mong có bạn đồng hành cùng hạnh nguyện với chúng ta. Riêng tôi, tu Pháp Hoa thì Linh Sơn cốt nhục laø pháp lữ đồng hạnh nguyện. Vì hành giả Pháp Hoa không tham vọng, thường sống tri túc, an phận nghèo quy củ tu hành, ai sống như vậy, tôi dễ kết thân và giúp đỡ được. Người tham vọng quá lớn, ta không thể nào đáp ứng đòi hỏi của họ, chỉ còn cách tránh xa.
Cầu mong những người đồng hạnh nguyện cùng sinh chung một nước với ta; hẹp là chung một chùa, rộng là cùng một Giáo hội, cho đến cùng một quốc gia, cùng một tôn giáo. Ý nguyện, suy nghĩ, việc làm của ta và họ giống nhau. Ý này dễ nhận ra, khi thầy trò cùng chí hướng, cùng việc làm, sống chung an vui giải thoát. Thầy không bắt buộc làm gì, nhưng tùy thân phận mà ta đóng góp tâm sức. Phật tử cũng không bắt ép được Thầy. Thầy trò cùng nương nhau tu, tăng trưởng phước đức, thăng hoa cuộc sống tâm linh. Hoặc khi sống chung với bạn cùng hạnh, ta thường cảm thấy hân hoan, thanh tịnh. Khác hạnh nguyện mà ở chung dễ sinh bưïc bội, phiền não. Khổ hơn nữa là phải sống chung với người chống đối hay tiêu cực, không thể nào làm được việc. Vì vậy, người nào tu pháp gì thì tìm người cùng pháp ấy mà tu chung.
Vì tầm quan trọng của pháp lữ đồng hành, theo Bồ tát Phổ Hiền, thầy trò thường sinh chung một chỗ, ở rời rạc thì khó hợp tác. Theo tinh thần này, đạo tràng hay học xứ của Bồ tát là tất cả Bồ tát tập họp một chỗ để suy nghĩ lời Phật dạy, ứng dụng tu hành, làm được việc lợi ích lớn lao, tức sức mạnh của sự đoàn kết.
Ðức Phật sinh ở Aán Ðộ, thành tựu viên mãn việc giáo hóa độ sinh cũng nhờ các Bồ tát cùng sinh với Phật, cùng trợ lực Ngài. Thực tế, lịch sử ghi nhận những người giàu có, thông minh, quyền thế cũng theo Phật tu học. Nếu chỉ toàn những người tầm thường theo Phật thì Ngài không thể tạo thành quả phi thường. Phẩm 13 kinh Pháp Hoa cho thấy các Thanh văn phát nguyện rằng Phật hóa độ ở cõi nào, các Ngài cũng xuất hiện ở đó để nương theo Phật mà hành đạo, ngõ hầu dễ dàng vượt qua ma chướng.
Tâm đắc tinh thần Bồ tát đồng hạnh đồng nguyện sinh chung một chỗ của Bồ tát Phổ Hiền, Hòa thượng Trí Thủ lúc sinh tiền đã có lời nguyện : Ðời đời kiếp kiếp được làm quyến thuộc của từ bi, tức gặp gỡ Tăng Ni Phật tử, được cùng sống chung trong ngôi nhà Phật pháp. Nhiều đời cùng chung lo Phật sự, tình người theo đoù mà chan hòa, thăng hoa. Không phải bất đắc dĩ gặp đời này để không còn muốn thấy mặt nhau nữa ở đời sau. Chúng ta thường thấy tất cả Phật sự thành tựu khi các vị thánh Tăng ra đời thì có bao nhiêu người tốt tu theo.
Khi pháp lữ được ba nghiệp thanh tịnh và đồng chí hướng như ta, ta nghĩ gì, nói gì, làm gì, bạn cũng chấp nhận và ngược lại, cuộc sống của họ, ta cũng bằng lòng. Thầy trò, pháp lữ, tức quyến thuộc đồng tu, cùng chung ý tươûng, chung việc làm, tất dễ hiểu nhau, dễ thành công. Còn nghịch hạnh, dù ta ráng chiều lòng họ, đến một ngày nào cũng không thể chiều nổi.
Ba nghiệp thân khẩu ý của chúng ta đồng nhau để suy nghĩ, trao đổi và tập làm theo Phật, Bồ tát, thánh Tăng để cùng trở thành Như Lai, Hiền Thánh. Không phải đồng nhau để làm ác, chống phá, xuyên tạc người. Ta và pháp lữ cố tìm lý nhiệm mầu, sống với pháp mầu vì nhận chân cuộc đời là giả tạm, cùng đi tìm vĩnh hằng. Ta và họ cùng tu, cùng học được với nhau nên cùng thăng tiến trên đường đạo. Còn ta hướng lên, mà họ hướng xuống, thì phải chỏi nhau thôi.
Khi quan sát đạo tràng, nếu thấy ba nghiệp của chúng hội thanh tịnh đồng nhau, chúng ta biết con đường tiến đến quả vị Phật gần. Ðược như thế, không phải tự nhiên, cũng không phải một kiếp mà có; vì thực sự hiểu được lòng nhau không đơn giản. Nhìn chúng hội đạo tràng của Phật, Bồ tát, Thanh văn và của người sơ phát tâm, chúng ta thấy rõ hoàn toàn khác nhau. Chúng sơ phát tâm còn nhiều phiền não, thường luôn giao động, tánh tình họ chao đảo liên tục, sống với đại chúng dễ đụng chạm nhau.
Các thiện tri thức lợi ích tôi,
Vì tôi chỉ bày hạnh Phổ Hiền,
Nguyện cùng tôi thường chung hội họp,
Ðối với tôi lòng luôn hoan hỷ.
Chúng ta tu rất cần thiện tri thức nhắc nhở. Người Việt Nam có câu nói dễ thương để diễn tả ý này : "Ăn cơm có canh, tu hành có bạn". Thiện Tài đồng tử trên đường tham vấn đã cầu học với 53 thiện tri thức, mỗi vị chỉ dạy một pháp. Nhờ họ chỉ cách tu, nhận ra hạnh nào đúng để theo và sửa đổi những việc sai lầm. Không có thiện tri thức chỉ bảo, khó lòng đắc đạo. Chúng ta sai, nhưng gặp người tâng bốc, chắc chắn ta thất bại. Còn ta đúng, nhưng họ ganh tỵ, cản ngăn ta thì cũng hỏng.
Theo tôi, các thiện tri thức làm lợi ích cho ta có hai hạng. Thiện tri thức mà chúng ta nương theo tu học và thiện tri thức giúp chúng ta trong thế mâu thuẫn. Ban đầu ta thường vấp phải khuyết điểm, ai nói theo hoặc giúp đỡ, ta liền nở mũi, thích chơi với họ. Người nào gây khó khăn làm ruột chúng ta quặn lại, không thích gần gũi. Nghĩ cho cùng, cả hai đều cần cho việc quân bằng cuộc sống, cứ vậy mà ta đi lần lên con đường Hiền Thánh, bỏ lại phía sau những thương ghét của trần gian.
Thật vậy, có người giúp đỡ vỗ về chúng ta qua cơn hoạn nạn, nếu không chúng ta dễ thối chuyển hoặc dễ làm điều sai trái. Tuy nhiên, chỉ toàn người lo lắng, giúp đỡ, cũng dễ sinh tâm ỷ lại, tăng thượng mạn, cứ tự cho mình là nhất, không ai được nói động đến. Nhờ có thiện tri thức đối lập, chúng ta phát hiện tánh xấu ác còn tồn đọng, tự khắc phục sai lầm và dần phát huy đạo hạnh.
Cuộc đời tu hành của tôi nhờ hai thiện tri thức thuận nghịch này, ví như hai chân cho tôi đi tới. Có người giúp đỡ, cũng có người gây khó khăn, tạo cho tôi biết bao thử thách gian truân. Nhưng càng tiến xa trên đường hành Bồ tát đạo, tôi thấy càng cần người gây khó khaên hơn, vì có khó mới có khôn, hiểu rõ ý nghĩa cuộc sống và trưởng thành trên đường đạo. Ðức Phật cũng dạy nhờ Ðề Bà Ðạt Ða chống phá mà Ngài mau đạt Vô thượng đẳng giác. Không có người ác, khó nổi bật vai người hiền.
Chúng ta cám ơn người giúp đỡ và đối với người gây khó khăn, chúng ta thầm cám ơn hơn, nhờ đó ta thực sự tròn hạnh Phổ Hiền và thốt lên lời nguyện "Ðối với tôi, lòng luôn hoan hỷ". Người chọc phá hay tùy thuận, giúp đỡ, chúng ta đều hoan hỷ.
Không hoan hỷ, không tha thứ, làm sao người dám làm bạn với ta hoặc chỉ lỗi cho ta. Theo tôi, sợ nhất là người nịnh bợ. Thực sự ta sai, không tốt; nhưng muốn lấy lòng ta, nên họ khen hay. Ta nghe theo, nở mũi nhưng vì ta làm bậy, thọ quả báo, rồi họ lại khinh chê. Không nên gần gũi những người như thế.
Thiện tri thức vì thương, giúp ta trưởng thành, mới ngăn cản việc sai trái. Ta cần trân trọng, mang ơn họ. Rieâng tôi, đã từng gặp nhiều thiện tri thức này. Họ nói một lời như sét đánh ngang tai, nghe nhói tim. Nhưng suy nghĩ lại, ta giựt mình, thay đổi việc làm, thì không thọ quả báo. Ðó là thiện tri thức gợi ý cho ta thấy được hươùng đi đúng. Ðối với những người này, dù có nặng lời, chúng ta cũng không giận họ, mà luôn hoan hỷ vì tự nghĩ họ xây dựng mình. Nhưng có lúc họ cũng phê phán sai, chúng ta vẫn hoan hỷ để chọn được điều tốt đẹp nhất cho hướng ta tu.
Nguyện thân khẩu ý hằng thanh tịnh,
Công hạnh cõi nước cũng không nhơ,
Trí huệ hạnh đức gọi Phổ Hiền,
Nguyện tôi cùng Ngài đều đồng đẳng.
Trên bước đường tu, ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh là điều quan trọng tất yếu phải có trước tiên để chúng ta tu hạnh Phổ Hiền. Thật vậy, thân nghiệp thanh tịnh nên người thấy ta thì họ hết phiền muộn, được an vui, nghe ta nói thì họ mát lòng, ý kiến của ta đều hợp tình hợp lý, được người chấp nhận dễ dàng.
Trái lại, nếu ở chùa mà ba nghiệp không thanh tịnh, khi gặp người đời vốn dĩ đầy phiền não, tất nhiên phiền não của ta và người gặp nhau, tác động hỗ tương, tạo thành phiền phức không thể tưởng nổi.
Thực tế ở những tu viện chỉ toàn những vị chân tu thật học sống chung với nhau, bước chân vào đó, chắc chắn chúng ta cảm nhận được ngay không khí giải thoát, an lành.
Khi thân khẩu ý của chúng ta luôn luôn thanh tịnh, thì gặp ai họ cũng cư xử tốt với ta. Họ chưa quý mến, kính trọng, phải biết là ta chưa thanh tịnh, vì chúng ta còn hiện tướng khó coi, giọng nói khó thương, ý nghĩ khó chấp nhận. Ý thức sâu sắc nghiệp ác tràn đầy như vậy, chúng ta cầu mong sao có thân tướng dễ coi, giọng nói làm mát lòng người, ý nghĩ đều đúng đắn. Có thể nói, người được ba nghiệp thanh tịnh, việc làm nào của họ cũng thành tốt, lợi lạc cho người. Thậm chí họ có rầy mắng, ta cũng cảm thấy thương và mang ơn họ. Ngoài ra, bài kệ này cũng nhắc nhở chúng ta trên bước đường tu, cần có ý hướng thượng, nhìn lên mẫu người tài đức để so sánh, tiến tu. Ðừng hướng xuống sẽ không tiến bộ.






