Từ điển Pháp số căn bản (Pháp số 4)

Pháp số 4

BỐN BỘ KINH A HÀM (tứ A Hàm)

Từ “a-hàm” có ý chỉ cho các giáo thuyết được truyền thừa, hoặc các thánh điển truyền thừa giáo pháp của đức Phật; vì vậy, có lúc nó được coi là đồng nghĩa với từ “pháp”. Gọi “a-hàm” là “A Hàm Kinh”, đó là do thói quen xưa nay của người Trung-quốc.

Trong thời nguyên thỉ của Phật giáo, các vị đệ tử Phật sau khi nghe pháp, đã dùng hình thức kệ tụng để khẩu truyền cho nhau; và những gì được khẩu truyền, đều y cứ vào trí nhớ. Nhưng, những vị đệ tử Phật, tùy căn cơ mà lãnh thọ giáo pháp của Phật mỗi người mỗi khác; từ đó mà nảy sinh những tư tưởng không giống nhau. Vậy, khi giáo đoàn đã chính thức xác lập, thì việc chỉnh lí, thống nhất tất cả giáo thuyết của đức Phật, nghiễm nhiên trở thành một nhu cầu bức thiết. Kết quả là, tất cả những lời dạy của đức Phật trong suốt cuộc đời hóa độ, trải qua bốn kì kết tập, đã được kết tập, chỉnh lí và bổ sung cho hoàn bị, dần dần phát triển thành một loại hình thức văn học nhất định; cuối cùng đã hình thành toàn bộ THÁNH ĐIỂN, được gọi là KINH A HÀM, tức KINH TẠNG trong Ba Tạng.

Như vậy, Kinh A Hàm đã được truyền thừa từ giáo đoàn nguyên thủy; đến thời kì Phật giáo bộ phái, nó lại được truyền thừa trong từng bộ phái. Các tài liệu hiện có cho thấy, vào thời đó, ít ra thì Nam Phương Thượng Tọa bộ, Hữu bộ, Hóa Địa bộ, Pháp Tạng bộ, Đại Chúng bộ, Ẩm Quang bộ, và Kinh Lượng bộ, đều có kinh điển truyền thừa; nhưng cho đến ngày nay thì chỉ thấy có kinh điển của Nam Phương Thượng Tọa bộ là được bảo tồn trọn vẹn; gồm có 5 bộ kinh: Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ, và Tiểu Bộ. Tất cả đều được viết bằng chữ Pali, và được gọi là Năm Bộ Kinh Nam Truyền (Nam Truyền Ngũ Bộ), cũng tức là Năm Bộ Kinh A Hàm Nam Truyền (Nam Truyền Ngũ A Hàm).

Trong khi đó, ở phía Bắc truyền, Kinh A Hàm cũng được lưu truyền, nhưng kinh bản gốc đã được viết bằng chữ Sanskrit, và nội dung kinh đã được góp nhặt từ các bộ A Hàm của các bộ phái để hình thành 4 bộ kinh A Hàm là Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, và Tạp A Hàm; được gọi là Bốn Bộ Kinh A Hàm Bắc Truyền (Bắc Truyền Tứ A Hàm). Toàn bộ bốn bộ A Hàm này đã được dịch sang Hán ngữ tuần tự như sau:

1) Trung A Hàm Kinh, 60 quyển, do ngài Cù Đàm Tăng Già Đề Bà dịch vào khoảng những năm cuối thế kỉ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 5, tại kinh đô Kiến- khang của nhà Đông-Tấn, hiện được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, quyển 1. Nguyên bộ kinh này trước đó đã được ngài Đàm Ma Nan Đề dịch (gồm 59 quyển) tại kinh đô Trường-an của nhà Tiền-Tần (351-394), nhưng chưa được hoàn chỉnh, nay ngài Tăng Già Đề Bà dịch lại. Theo các bộ luận giải thích, chữ “trung” ở đây có nghĩa là vừa phải, không lớn không nhỏ, không dài không ngắn, tức bộ kinh này là một tổng tập của những kinh không dài không ngắn. Về sự truyền thừa, có thuyết nói kinh này do Đại Chúng bộ truyền, nhưng phần nhiều cho rằng nó đã do Tát Bà Đa bộ truyền. Kinh này tương đương với kinh Trung Bộ của hệ Nam Truyền Ngũ Bộ, nhưng nội dung của hai bộ kinh không hoàn toàn giống nhau: kinh Trung A Hàm gồm 222 kinh, kinh Trung Bộ gồm 152 kinh, nhưng chỉ có 98 kinh của chúng là giống nhau; vả lại, thuận tự của các phẩm kinh cũng khác nhau.

2) Tăng Nhất A Hàm Kinh, 51 quyển, do ngài Cù Đàm Tăng Già Đề Bà dịch vào khoảng những năm cuối thế kỉ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 5, tại kinh đô Kiến-khang của nhà Đông-Tấn, hiện được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, quyển 2. Theo các bộ luận giải thích, chữ “tăng nhất” ở đây có nghĩa là y theo thứ tự của các pháp số; bộ kinh này ghi lại các bài pháp bắt đầu bằng con số, ghi theo thứ tự từ 1 pháp cho đến 11 pháp, cho nên gọi là “tăng nhất” (tức là tăng lên từng số một: 1 rồi 2, rồi 3, v.v...). Theo sự khảo sát của các nhà học giả, trong Bốn Bộ Kinh A Hàm Bắc Truyền, bộ kinh này đã được hình thành sau cùng, và nội dung có mang nhiều sắc thái của tư tưởng đại thừa. Về sự truyền thừa, có thuyết nói kinh này do Đại Chúng bộ truyền, nhưng cũng có thuyết nói là do Tát Bà Đa bộ (tức Hữu bộ) truyền. Trong Năm Bộ Kinh A Hàm Nam Truyền thì kinh này tương đương với kinh Tăng Chi Bộ, nhưng nội dung của hai kinh không hoàn toàn đồng nhất: kinh Tăng Nhất A Hàm của hệ Bắc truyền gồm có 472 kinh, kinh Tăng Chi Bộ của hệ Nam truyền gồm có 2.203 kinh, trong đó chỉ có khoảng từ 136 đến 153 kinh của chúng là có nội dung tương đồng. Vả lại, theo các nhà học giả đã khảo sát, trong kinh Tăng Chi Bộ của hệ Nam truyền không hề hàm chứa tư tưởng đại thừa như trong kinh Tăng Nhất A Hàm của hệ Bắc truyền.

3) Trường A Hàm Kinh, 22 quyển, do hai ngài Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm dịch vào năm 413 đời Diêu-Tần, hiện được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, quyển 1. Chữ “trường” ở đây, theo các bộ luận giải thích, có ba ý nghĩa: đó là sự tổng tập của các kinh dài; đó là các kinh đả phá ngoại đạo; và đó là sự tồn tại lâu dài bất tuyệt. Về sự truyền thừa, có thuyết nói rằng, kinh này đã do Đại Chúng bộ truyền; có thuyết nói do Hóa Địa bộ truyền; lại có thuyết nói do Pháp Tạng bộ truyền. Kinh này tương đương với kinh Trường Bộ của hệ Nam Truyền Ngũ Bộ, nhưng nội dung không hoàn toàn giống nhau: Trường A Hàm Kinh gồm 30 kinh, Trường Bộ Kinh có 34 kinh, trong đó chỉ có 6 kinh trong Trường A Hàm có nội dung tương đương rõ rệt với 10 kinh trong Trường Bộ, các kinh khác còn lại thì không nhất trí với nhau; vả lại, kinh Thế Kí trong phần chót của Trường A Hàm thì hoàn toàn không có trong Trường Bộ.

4) Tạp A Hàm Kinh, 50 quyển, do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào thời Lưu-Tống, hiện được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, quyển 2. Theo các bộ luận giải thích, chữ “tạp” ở đây nghĩa là lộn xộn, không thống nhất, không chuyên đề. Nội dung của kinh này thâu tóm tất cả giáo thuyết của Phật dành cho đủ loại đối tượng: tì kheo, tì kheo ni, cư sĩ nam nữ, thiên tử, thiên nữ v.v...; giáo pháp đủ loại như tứ đế, bát chánh đạo, thập nhị nhân duyên v.v..., lại có cả những pháp môn về thiền định; văn cú của kinh cũng dài ngắn lộn xộn, không theo một thể loại nhất định nào. Về sự truyền thừa, có thuyết nói kinh này do Đại Chúng bộ truyền, có thuyết nói do Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ truyền. Kinh Tạp A Hàm này gồm 1.362 kinh, tương đương với kinh Tương Ưng Bộ (gồm 2.858 kinh) của Tạng Kinh Nam Truyền. Nó là bộ kinh lớn nhất trong Bốn Bộ Kinh A Hàm Hán tạng, và theo công trình nghiên cứu của các nhà học giả, đó cũng là bộ kinh được hình thành sớm nhất; vì vậy, nó gìn giữ được cái phong mạo của Phật giáo Nguyên thỉ. Ngoài bản Hán dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La mang tên Tạp A Hàm Kinh, vừa nêu trên, còn có hai bản dịch khác cũng mang tên Tạp A Hàm Kinh, nhưng số quyển ít hơn, và tên người dịch bị thất truyền.

BỐN CÁCH THÀNH TỰU CHÚNG SINH (tứ tất đàn)

Chữ Phạn “tất đàn” được người Hoa dịch ý là “thành tựu”, tức là tùy từng đối tượng khác nhau mà đức Phật dùng các cách thức giáo hóa khác nhau để làm cho chúng sinh nhập vào tri kiến Phật. Một cách tổng quát, có bốn cách thức như vậy, gọi là “tứ tất đàn”:

1. Thế giới tất đàn: Đối với đối tượng chung là chúng sinh trong khắp thế gian, đức Phật đã tùy thuận thế gian mà dùng các tư tưởng, ngôn ngữ, quan niệm v.v... của thế gian mà thuyết pháp, khiến cho hạng phàm phu vui mừng tiếp nhận, từ đó mà có được chánh trí.

2. Các các vị nhân tất đàn: Đức Phật ứng theo căn cơ và năng lực của từng người cá biệt mà nói giáo pháp thực tiễn, thích hợp, làm cho họ sinh khởi căn lành.

3. Đối trị tất đàn: Đức Phật tùy từng loại phiền não (hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, v.v...) của chúng sinh mà dùng cách đặc biệt để đối trị, giống như tùy từng chứng bệnh mà cho thuốc chữa trị.

4. Đệ nhất nghĩa tất đàn: Đối với người căn cơ thượng thừa, đức Phật dứt bỏ tất cả nghị luận, ngữ ngôn, dùng giáo pháp đệ nhất nghĩa đưa thẳng đối tượng vào lí thể chân thật của vạn pháp.

BỐN CÁCH THU PHỤC (tứ nhiếp pháp)

“Nhiếp” là thu phục người; và “nhiếp pháp” là cách thức tiếp xúc, cư xử với người, làm thế nào cho người ta đến với mình bằng tình thân thiện và lòng tin tưởng. Nếu cuộc sống xã hội được hoàn toàn an lạc thì sự có mặt của hành giả chắc hẳn là không cần thiết. Nhưng cuộc sống lại đầy dẫy thương đau, oan nghiệt, nghi kị, hận thù, giả trá, cho nên sự có mặt của hành giả trong cuộc đời thật là quan trọng với trách nhiệm giúp xoa dịu đau thương, đánh tan nghi kị, điều chỉnh giả trá, hóa giải oan nghiệt, và xóa bỏ hận thù. Đã vậy, muốn cho tiếng nói của mình được hữu hiệu, chương trình của mình được tin nhận, cũng như muốn có được sự cộng tác của mọi người, hành giả trước tiên phải lấy được lòng thân ái và sự tín nhiệm của mọi người đối với mình; làm sao cho sự hiện diện của mình luôn luôn là cánh hoa tươi mát cho toàn thể mọi người. Bốn phương pháp thu phục nhân tâm sau đây sẽ giúp ích rất nhiều cho hành giả trong việc xử thế.

1. Bố thí

“Bố thí” là chia sớt, giúp đỡ người bằng tài vật hoặc bằng ý kiến, lời khuyên, thì giờ, khả năng, tâm lực, hay giáo pháp.

2. Ái ngữ

“Ái ngữ” là lời nói ôn hòa, thành thật và thân thiết. Lời nói như thế là phải phát xuất từ tình thương và sự hiểu biết; vì có tình thương thì lời nói mới êm dịu, thành thật, và có hiểu biết thì lời nói mới thích hợp cho từng người, từng lúc và từng hoàn cảnh.

3. Lợi hành

“Lợi hành” là làm bất cứ việc gì có thể giúp ích cho người thăng tiến trong đời sống tinh thần và vật chất.

4. Đồng sự

“Đồng sự” là quan tâm đến công việc của người và cùng giúp một tay với họ để hoàn tất công việc đó.

BỐN CÁI THẤY CHÂN CHÁNH (tứ chánh kiến)

“Chánh kiến” được đặt đứng đầu trong tám nguyên tắc hành động chân chính (bát chánh đạo), là một đức tánh quan trọng để thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Người tu học Phật, một khi đã có được “chánh kiến” thì liền dứt hết tà kiến, phá lưới si mê, trừ mọi tội lỗi. Rất có nhiều chi tiết để diễn đạt về “chánh kiến”, nhưng căn bản nhất là bốn cái thấy sau đây:

1. Tất cả các pháp do nhân duyên sinh, chuyển biến sinh diệt trong từng giây phút, cho nên bản chất của vạn pháp là VÔ THƯỜNG.

2. Vì vạn pháp là do nhân duyên sinh, nên sự có mặt của chúng chỉ là giả hợp mà có, không chắc thật, không thường còn, rốt cuộc rồi cũng hoàn không, cho nên bản chất của vạn pháp là KHÔNG.

3. Tâm ý phan duyên trần cảnh, vọng tưởng phân biệt, chấp trước, tham đắm, bao nhiêu phiền não khởi sinh, trói buộc, bức não; lại luôn luôn lo buồn, sợ sệt về những khổ đau của sinh già bệnh chết, cho nên bản chất của đời sống con người là KHỔ.

4. Con người có ý thức nên biết sự vật, rồi tưởng rằng mình là chủ tể, cho mình có cái “ngã” (ngã) chân thật, và có những sự vật “thuộc về mình” (ngã sở hữu). Sự thật thì cái thân này là do bốn đại giả hợp mà thành, tâm ý cũng do nhân duyên hòa hợp mà có, nói chung là con người vốn do năm uẩn nhóm họp làm thành, không chân thật, không có cái ngã thể thường nhất bất biến, cho nên không có cái gì gọi là “ngã”, hay nói cách khác, bản chất của con người là VÔ NGÃ.

Người tu học Phật nhận chân được vạn pháp trong vũ trụ (kể cả con người) đều là vô thường, đều là không, đều là khổ, đều là vô ngã, đó là “chánh kiến”.

BỐN CHÂU (tứ châu - tứ đại châu)

Theo thế giới quan của người Ấn-độ thời cổ đại, trong vũ trụ có vô lượng vô số thế giới. Thế giới là một đơn vị (gọi là “một thế giới”), gồm có núi Tu-di ở trung tâm, bao chung quanh có 9 núi, 8 biển, mặt trời, mặt trăng, sao, và 4 châu thiên hạ.

Từ trung tâm núi Tu-di, chia ra bốn phương Đông, Nam, Tây, Bắc, mỗi phương có một châu, đều là nơi cư trú của loài người.

1. Châu ở phương Đông có tên là Thắng-thân (Đông Thắng-thân châu), địa hình giống như một nửa mặt trăng, khuôn mặt của người ta cũng giống như vậy. Vì loài người ở đây có thân hình thù thắng, nên châu ấy được gọi là “thắng-thân châu”. Điểm đặc biệt của châu này là rất rộng, rất lớn, vô cùng kì diệu.

2. Châu ở phương Nam có tên là Thiệm-bộ (Nam Thiệm-bộ châu – cũng gọi là Diêm-phù-đề), địa hình trông giống như cái thùng xe, khuôn mặt người ta cũng giống như vậy. Vì ở châu này đặc biệt có nhiều cây thiệm-bộ (cây bồ-đào), nên gọi là “Thiệm-bộ châu”. Loài người ở châu này mạnh mẽ, có trí nhớ tốt, có thể tạo nghiệp ác, mà cũng có thể tu hành phạm hạnh, có Phật ra đời để cứu độ; đó là những điểm đặc biệt của châu này hơn cả ba châu kia.

3. Châu ở phương Tây có tên là Ngưu-hóa (Tây Ngưu-hóa châu), địa hình giống như mặt trăng tròn, khuôn mặt người ta cũng giống như vậy. Vì ở châu này loài người dùng trâu trong việc mậu dịch, nên gọi là “Ngưu-hóa châu”. Đặc điểm của châu này là có nhiều trâu, nhiều dê, nhiều châu ngọc.

4. Châu ở phương Bắc có tên là Câu-lư (Bắc Câu-lư châu),  địa hình bằng thẳng, giống như hồ nước, khuôn mặt người ta cũng giống như vậy. Loài người ở châu này có đời sống sung sướng, tốt đẹp hơn hết so với ba châu kia, nên gọi là “Câu-lư châu”. Người ở châu này có quả báo tốt đẹp, hưởng nhiều thú vui, ít có sự khổ, sống lâu ngàn tuổi; nhưng vì nơi đây không có Phật pháp, nên con người không biết tu hành để gieo trồng thiện căn, thọ mạng hết liền bị đọa lạc, cho nên châu này là một trong tám nạn (bát nạn) đối với người tu hành.

BỐN CHƯỚNG NGẠI (tứ chướng)

Đây là những điều làm chướng ngại khiến không thấy được chánh đạo, hoặc không chứng được quả vị Vô-thượng Bồ-đề.

A. Bốn sự chướng ngại ngăn che chánh đạo:

1. Hoặc (hoặc chướng). Hoặc tức là phiền não. Chúng sinh bị các thứ hoặc như tham dục, sân nhuế, si mê v.v... làm cho mờ tối căn tánh, không thấy được chánh đạo.

2. Nghiệp (nghiệp chướng). Nghiệp tức là hành động. Chúng sinh thường không làm các việc lành, mà thường làm các việc xấu ác hại mình hại người; vì tánh bất thiện ấy không thấy được chánh đạo.

3. Báo (báo chướng). Chúng sinh do phiền não sai sử khiến tạo nghiệp nhân xấu ác, phải chiêu cảm quả báo đau khổ nơi các cảnh giới súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục, không có cơ hội được nghe chánh đạo.

4. Kiến (kiến chướng). Chúng sinh đầy dẫy tà kiến, chấp trước, cho nên chỉ làm toàn chuyện sai quấy, không biết gì đến chánh đạo.

B. Bốn hạng người không thể chứng được quả Phật:

1. Nhất xiển đề (xiển đề bất tín chướng). Nhất xiển đề là hạng người đã đoạn mất căn lành. Người nhất xiển đề không tin nhân quả thiện ác, phỉ báng chánh pháp, Tam Bảo; như thế là đoạn mất thiện căn, bị chướng ngại trên đường tiến đến quả vị Vô-thượng Bồ-đề, tức là không thể thành Phật.

2. Ngoại đạo (ngoại đạo trước ngã chướng). Ngoại đạo học theo tà giáo, vọng tưởng chấp trước, cho rằng có cái ngã chân thật, từ đó mà làm điều sai quấy, gây nhiều tội lỗi, không thấy được chánh đạo, không biết tu hành để tiến đến thành Phật.

3. Thanh-văn (Thanh-văn úy khổ chướng). Các hành giả Thanh-văn thừa, vì nhàm chán, sợ hãi cái khổ sinh tử ở thế gian, mà chỉ muốn sớm nhập niết bàn, không có tâm nguyện thành Phật, nên không thể thành Phật.

4. Duyên-giác (Duyên-giác xả tâm chướng). Các hành giả Duyên-giác thừa bỏ mất tâm đại bi, tâm lợi tha, chỉ muốn riêng mình chứng nhập cảnh giới vô dư niết bàn. Vì không có tâm nguyện thành Phật nên không thể thành Phật.

Bốn hạng người trên vì bị các lỗi lầm ấy chướng ngại, che khuất, làm cho không thấy được pháp tánh Như Lai, nên không thể chứng đạt quả vị Bồ-đề Vô-thượng. Chỉ có các hành giả Bồ-tát thừa, vì dứt bỏ được các thứ chướng ngại kia, thấy được pháp tánh, cho nên nhất định sẽ thành Phật.

BỐN ĐIỀU KHÔNG THỂ ĐƯỢC (tứ bất khả đắc)

Chúng sinh ở thế gian có bốn điều không thể nào đạt thành như ý muốn:

1. Không thể nào trẻ mãi.

2. Không thể nào không bệnh hoạn.

3. Không thể nào không già.

4. Không thể nào không chết.

BỐN ĐIỀU KIỆN (tứ duyên)

Theo luật duyên sinh thì bất cứ một sự vật nào trong vũ trụ cũng đều do nhiều sự vật khác hợp lại sinh ra. Những sự vật khác đó gọi là “DUYÊN” – nghĩa là điều kiện. Theo Duy Thức Học thì có bốn loại điều kiện tất cả:

1. Nhân duyên, là điều kiện chính, là chủng tử, là cái nhân để sinh ra một vật. Hạt lúa là điều kiện chính để sinh ra cây lúa; chánh niệm là điều kiện chính để phát sinh trí tuệ, v.v...

2. Tăng thượng duyên, là điều kiện phụ giúp. Dù hạt lúa là điều kiện chính, nhưng nó không phải là điều kiện duy nhất và đầy đủ, vì nếu chỉ một mình nó không thôi, cũng không thể làm nẩy sinh ra cây lúa, mà phải nhờ đến nhiều điều kiện khác như đất, nước, phân bón, ánh sáng mặt trời, sức người, sức vật, máy móc v.v..., những thứ này là tăng thượng duyên của hạt lúa. Những điều kiện phụ giúp này cũng có thuận và có nghịch, cho nên chúng có thể phân làm hai loại: những điều kiện giúp cho điều kiện chính phát sinh và tiến triển cho đến khi có được thành quả mĩ mãn, thì gọi là “thuận tăng thượng duyên”; ngược lại, những điều kiện đe dọa, ngăn cản, phá hoại, làm cho hạt giống không thể phát sinh được, thì gọi là “nghịch tăng thượng duyên”. Có điều nên chú ý, không phải lúc nào thuận tăng thượng duyên cũng là tốt và nghịch tăng thượng duyên cũng là xấu, mà cũng có trường hợp ngược lại. Nếu có những điều kiện thuận lợi nào đó đã giúp cho một tâm niệm độc ác phát sinh thành hành động gây đau khổ thì đó là những thuận tăng thượng duyên xấu; trái lại, khi một ý tưởng xấu vừa khởi lên mà người tu học biết dùng những phương pháp hữu hiệu dập tắt liền, không để cho phát hiện thành hành động, thì đó là những nghịch tăng thượng duyên tốt.

3. Sở duyên duyên, là điều kiện đối tượng của nhận thức. Danh từ “sở duyên duyên” gồm có hai danh từ nhập lại: “sở duyên” và “duyên”. “Sở duyên” nghĩa là đối tượng của nhận thức; và “duyên” nghĩa là điều kiện. Duy Thức Học nói, “nhận thức luôn luôn bao gồm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức”. Biết thì không thể biết suông, mà phải là biết cái gì; nhận thức luôn luôn phải là nhận thức một đối tượng, cho nên, không có đối tượng thì không có nhận thức. Vì vậy, sở duyên là điều kiện thiết yếu cho thức, tức là điều kiện thiết yếu để vạn pháp có mặt.

4. Đẳng vô gián duyên, là điều kiện tiếp nối liên tục, không gián đoạn của vạn pháp. Trong dòng sống của vạn pháp cần có sự liên tục, nếu gián đoạn thì sẽ không có gì được hình thành cả. Nếu tôi của phút thứ nhất mà không có tôi của giây thứ hai tiếp nối thì sẽ không còn gì là tôi cả! Vì vậy, đẳng vô gián cũng là một điều kiện vô cùng quan trọng cho sự hiện hữu của sự vật.

Bốn điều kiện trên đây đã hợp lại mà làm nên sự vật. Chúng chính là nội dung của đạo lí “Duyên Sinh”, theo đó, vạn pháp trong vũ trụ, không có sự vật nào có thể tự mình sinh ra, không có tự ngã riêng biệt, cũng không thể tồn tại một mình. Sự sinh thành và hoại diệt của một sự vật luôn luôn tùy thuộc vào sự sinh thành và hoại diệt của vạn pháp; vì vậy, Duy Thức Học nói, tự tính của vạn pháp là y tha khởi. (Xin xem lại mục “Ba Tự Tính” ở trước.)

BỐN ĐỨC (tứ đức)

Đây là bốn đức tính của pháp thân Như Lai.

1. Thường: Thể tánh của pháp thân Như Lai là thường trú, vĩnh viễn không dời đổi, không biến cải, cho nên nói là “thường”.

2. Lạc: Pháp thân Như Lai vĩnh viễn xa lìa mọi sự đau khổ, an trú trong cái vui tịch tĩnh của cảnh giới niết bàn, cho nên nói là “lạc”.

3. Ngã: Pháp thân Như Lai tự tại vô ngại, không bị ràng buộc bởi hai thứ vọng chấp hữu ngã và vô ngã, không bị các pháp hữu vi chi phối, cuốn trôi vào dòng sinh tử, cho nên nói là “ngã”.

4.Tịnh: Pháp thân Như Lai xa lìa mọi thứ cấu nhiễm, lắng trong thanh tịnh, cho nên nói là “tịnh”.

BỐN ĐỨC VÔ ÚY (tứ vô úy, hay tứ vô sở úy)

Bốn đức vô úy tức là 4 đức tự tin, dũng mãnh, không sợ sệt. Nhờ 4 đức tính này mà công việc giáo hóa chúng sinh trở nên dễ dàng, không trở ngại. Có 4 đức vô úy của Phật và 4 đức vô úy của Bồ-tát.

A. Bốn đức vô úy của Phật:

1) Có trí biết rõ tất cả không sợ sệt: Phật biết rõ tất cả các pháp, luôn luôn trụ nơi chánh kiến, rất tự tin, không gì làm cho khuất phục, không gì làm cho sợ sệt.

2) Dứt tuyệt các phiền não không sợ sệt: Phật đã hoàn toàn dứt trừ tất cả mọi loại phiền não, không một thứ chướng nạn nào có thể làm cho sợ sệt.

3) Vạch rõ những thứ làm chướng ngại cho đạo không sợ sệt: Phật chỉ rõ các phương pháp tu tập để vượt qua những chướng ngại, đối với bất cứ lời cật vấn nào cũng không làm cho sợ sệt.

4) Vạch rõ cách diệt khổ không sợ sệt: Phật chỉ bày cặn kẽ con đường dứt tuyệt khổ đau mà không gì làm cho sợ sệt.

B. Bốn đức vô úy của Bồ-tát:

1) Nắm giữ tất cả không sợ sệt: Bồ-tát luôn luôn nhớ đến giáo pháp, thọ trì không xao lãng, cho nên khi thuyết pháp trước đại chúng, lòng rất tự tin về những nghĩa lí nói ra, không có gì làm cho sợ sệt.

2) Biết rõ căn tánh không sợ sệt: Bồ-tát biết rõ căn tánh của chúng sinh, tùy theo sáng suốt hay tối tăm mà hướng dẫn cho thích hợp, cho nên lòng rất tự tin, không gì làm cho sợ sệt.

3) Ứng đáp không sợ sệt: Đối với tất cả những câu hỏi của mọi người, Bồ-tát khéo léo giải đáp đúng như chánh pháp, không gì làm cho sợ sệt.

4) Giải tỏa nghi nan không sợ sệt: Bồ-tát lắng nghe tất cả những lời vấn nạn của mọi người, rồi theo như chánh pháp mà giảng giải cho từng trường hợp, làm cho mọi nghi nan đều được giải tỏa, sau đó lại thuyết pháp giáo hóa, không gì làm cho sợ sệt.

BỐN GIA HẠNH (tứ gia hạnh)

(Xin xem mục “Bốn Thiện Căn” ở dưới.)

BỐN HƯỚNG BỐN QUẢ (tứ hướng tứ quả)

Bốn quả vị Thanh-văn (xin xem mục “Bốn Quả Vị Thanh Văn” ở sau), mỗi quả có hai giai đoạn: giai đoạn tu tập hướng tới, gọi là “hướng”; và giai đoạn chứng đắc, gọi là “quả”. Theo đó, bốn quả Thanh-văn gồm có bốn Hướng và bốn Quả như sau: Dự-lưu-hướng, Dự-lưu-quả; Nhất-lai-hướng, Nhất-lai-quả; Bất-hoàn-hướng, Bất-hoàn-quả; A-la-hán-hướng, A-la-hán-quả. Như vậy, mỗi quả Thanh-văn là một đôi, gồm hai hạng hành giả; và bốn quả Thanh-văn là bốn đôi, gồm tám hạng hành giả; do đó, bốn hướng bốn quả cũng gọi là “bốn đôi tám hạng” (tứ song bát bối).

BỐN HỮU (tứ hữu)

Tất cả các loài hữu tình trong ba cõi (hay sáu đường) đều luân chuyển trong vòng luân hồi sinh tử, sinh rồi chết, chết rồi lại sinh, trải qua bốn giai đoạn – mà thuật ngữ Phật học gọi là “bốn hữu” (chữ “hữu” nghĩa là sự hiện hữu): tử hữu, trung hữu, sinh hữu, và bản hữu. Ở đây xin lấy con người làm ví dụ để giải thích về bốn giai đoạn chuyển sinh này:

1) Tử hữu: Con người do nghiệp lực đời trước chiêu cảm mà nhận lấy quả báo là cái thân ở đời này. Đời trước người ấy sống trọn một đời rồi xả bỏ thân mạng, thì cái khoảng sát na cuối cùng của đời sống (tức phút lâm chung), giai đoạn đó được gọi là “tử hữu”.

2) Trung hữu: cũng gọi là “trung ấm”, chỉ cho giai đoạn từ sau khi xả bỏ thân mạng ở đời trước cho đến khi đủ duyên để đầu thai ở đời này. Theo chủ trương của luận Câu Xá và Hữu bộ, trong giai đoạn này có sự hiện hữu của một sắc thân, gọi là thân trung hữu (hay thân trung ấm). Thân này lớn cỡ con nít năm, sáu tuổi, có đủ sáu căn, do thứ sắc chất cực vi tế cấu thành, nên nhục nhãn không thấy được, chỉ có thiên nhãn và những hữu tình cùng ở giai đoạn trung hữu đó mới thấy được. Về thời gian tồn tại của thân trung hữu này, có bốn thuyết khác nhau: các luận sư Tì Bà Sa cho rằng, sau khi chết liền đi đầu thai, nên nó chỉ tồn tại trong khoảnh khắc; luận sư Thế Hữu cho rằng, nó tồn tại lâu nhất là 7 ngày; luận sư Thiết Ma Đạt Đa cho rằng, nó có thể tồn tại lâu nhất là 7 lần 7 ngày (tức 49 ngày); luận sư Pháp Cứu thì cho rằng, vì tùy theo nghiệp lực thúc đầy đi thọ sinh mạnh hay yếu, mà thời gian tồn tại của thân trung ấm không có hạn kì nhất định. Đại Chúng bộ, Hóa Địa bộ, Thuyết Xuất Thế bộ và Kê Dận bộ thì không thừa nhận có thân trung hữu này.

3) Sinh hữu: Khi nhân duyên đầu thai đã thành thục, nghiệp thức liền xả bỏ thân trung hữu để thác sinh vào thai mẹ; khoảng sát na đầu tiên nhập thai ấy là giai đoạn “sinh hữu”.

4) Bản hữu: Giai đoạn của mạng sống từ sau khi nhập thai (tức sinh hữu) cho đến lúc lâm chung (tức tử hữu), gọi là “bản hữu”. Thân bản hữu này gồm hai giai đoạn: ở trong bào thai và ra khỏi bào thai. a) Giai đoạn ở trong bào thai, tuần tự trải qua 5 trạng thái: - trong 7 ngày đầu thụ thai, hình tượng như một chút váng sữa; - trong 7 ngày thứ nhì, hình tượng như một cục máu; - trong 7 ngày thứ ba, hình tượng cục máu tiến triển thành thịt mềm; - trong 7 ngày thứ tư, cục thịt mềm tiến triển thành thịt cứng; - từ 7 ngày thứ năm trở đi, các chi tiết của hình vóc dần dần tượng thành và phát triển cho đến khi sinh ra đời. b) Từ sau khi sinh ra đời cho đến lúc lâm chung, thân mạng cũng tuần tự tiến triển qua 5 hình thái: - anh hài (em bé từ khi sinh ra cho đến 6 tuổi); - đồng tử (trẻ em từ 7 đến 15 tuổi); - thiếu niên (từ 16 đến 30 tuổi); - tráng niên (từ 31 đến 40 tuổi); - lão niên (từ 41 tuổi cho đến lúc lâm chung). Sự phân chia tuổi tác của các giai đoạn này chỉ là đại khái mà thôi.

Hữu tình chúng sinh từ tử hữu bước sang trung hữu, từ trung hữu bước sang sinh hữu, từ sinh hữu bước sang bản hữu; trong giai đoạn bản hữu nếu không biết tu đạo giải thoát mà vẫn ngu si tạo nghiệp, thì từ bản hữu lại tiếp tục quá trình sang tử hữu, sang trung hữu, sang sinh hữu, sang bản hữu..., cứ như thế, vòng luân hồi cứ quay mãi, con đường sinh tử kéo dài bất tận!

BỐN LĨNH VỰC QUÁN NIỆM (tứ niệm xứ - tứ niệm trú)

Danh từ Phật học Hán Việt gọi lĩnh vực quán niệm là “niệm xứ” hay “niệm trú”. Niệm  là có ý thức, để tâm tới, thuật ngữ thiền học gọi là quán niệm. Xứ là chỗ, nơi, lĩnh vực, đối tượng; niệm xứ là đối tượng hay lĩnh vực quán niệm – tức là nơi mà hành giả để tâm tới, đặt ý thức lên đó. Trú nghĩa là ở, như trong từ ngữ “cư trú”, “an trú”; niệm trú là duy trì ý thức trên đối tượng quán niệm – tức là quán chiếu đối tượng trên ngay đối tượng đó.

Tu tập phép quán niệm này, muốn được thành công mĩ mãn, phải trải qua hai giai đoạn: giai đoạn căn bản, quán chiếu tướng riêng của từng lĩnh vực (biệt tướng niệm trú); và giai đoạn dung thông, cùng lúc quán chiếu tướng chung của cả bốn lĩnh vực (tổng tướng niệm trú).

A. Giai đoạn căn bản:

1. Quán niệm rằng thân thể là không trong sạch (quán thân bất tịnh). Hành giả hãy quán niệm rằng, thân thể là xác thịt do cha mẹ sinh ra. Tất cả những gì làm nên và chứa đựng trong thân thể (như da, thịt, máu, mủ, phân, nước tiểu v.v...) đều dơ bẩn, hôi hám, không có thứ gì là trong sạch.

2. Quán niệm rằng mọi cảm thọ đều là đau khổ (quán thọ thị khổ). Hành giả hãy quán niệm rằng, dù cảm thọ có vui có khổ, nhưng ở thế gian không bao giờ có cái vui chân thật, còn cái khổ thì đầy dẫy. Nếu có cái vui thì cũng chỉ là tạm bợ, và chỉ là cái khổ trá hình; rốt cuộc, cái vui lại là nguyên nhân của cái khổ. Bởi vậy, tất cả mọi cảm thọ đều chỉ là đau khổ. Có chỗ cũng giải thích “thọ thị khổ” là có nhận lãnh là có đau khổ. Trước tiên là nhận lãnh cái thân này, cái tâm này; sau đó là nhận lãnh các thứ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc thang, mọi thứ vật dụng, rồi nào là sắc, thanh, hương, vị, xúc, v.v..., tất cả những gì ta thọ nhận trong đời sống đều là nguồn gốc sinh ra đau khổ.

3. Quán niệm rằng tâm ý là vô thường (quán tâm vô thường). Hành giả hãy quán niệm rằng, tâm ý luôn luôn thay đổi, từng phút từng giây, không bao giờ ngưng nghỉ. Không có một ý nghĩ, một trạng thái tâm lí nào là bền vững, chắc chắn.

4. Quán niệm rằng vạn pháp là vô ngã (quán pháp vô ngã). Hành giả hãy quán niệm rằng, vạn pháp ở thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà làm nên, không vật gì có bản tính độc lập, chân thật. Mục đích của phương pháp quán niệm như trên là để hành giả tự cảnh giác trên đường tu tập. Khi đã thấy rõ thân thể là dơ nhớp thì hành giả sẽnhàm chán nhục dục, sẽ diệt được những ham muốn thể xác, không để mình bị lôi cuốn bởi những quyến rũ của ái dục. Khi đã thấy rõ được tất cả mọi cảm thọ, mọi cái thọ nhận đều là đau khổ thì hành giả không còn để cho mình bị tham đắm vào những thú vui thường tục, những nghiện ngập trác táng, những nhu cầu quá độ hay vô ích chỉ nhằm thỏa mãn lòng tham. Khi đã thấy rõ tâm ý là vô thường thì hành giả có thể tùy từng trường hợp, từng hoàn cảnh mà đối trị với những vọng tưởng, những tà niệm của chính mình; hoặc có thể giữ được tâm bình thản trước những oan nghịch, những phản trắc của tình đời. Khi đã thấy rõ các pháp là vô ngã thì hành giả đã mở được con mắt tuệ cho chính mình, một niệm tham cũng không còn, tâm chấp trước cũng tiêu mất.

B. Giai đoạn dung thông:

Khi đã tu tập thành công giai đoạn quán niệm căn bản như trên, hành giả nên tiến sang giai đoạn kế tiếp, cao sâu hơn, viên dung hơn, đó là, khi quán niệm về một lĩnh vực, thì

🔔 Vào dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương — ngày 25, 26 và 27/04/2026 — tại thánh địa Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Tam Đảo, Phú Thọ) linh thiêng, một pháp hội chưa từng có sẽ diễn ra:
 
🌸 PHÁP HỘI ĐẠI BI QUAN ÂM 2026
🕊️Cầu nguyện Quốc thái Dân an • Hòa bình Thế giới
 
🙏 Do Đức Gyalwang Drukpa — bậc Thượng sư được tôn kính là Hoá Thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát — đích thân chủ trì.
 
🌐 Xem chương trình Pháp hội, giải đáp thắc mắc và đăng ký tham dự tại đây