Lược giải "Phật thuyết kinh Vu Lan Bồn" (Việt dịch: Ns. Liên Nghiêm)

LƯỢC GIẢI

“PHẬT THUYẾT VU LAN BỒN KINH”

Giảng sư Thanh Nguyên giảng tại Niệm Phật đường Linh Nham Sơn,

Tô Châu - Trung Quốc

 

Việt dịch: Nữ Ns. Liên Nghiêm

 

 

Kinh “Vu lan bồn” là một bộ “Hiếu kinh” trong Phật giáo, cũng có thể nói là “kinh Báo Ân”, báo đáp ân đức cha mẹ. Ai sinh ra trên đời này mà không có cha mẹ? Ðã có cha mẹ thì cần phải báo ân. Bộ kinh này không dài, nhưng ý nghĩa của nó rất thâm sâu. Nay chúng ta không giảng về ý nghĩa thâm sâu của kinh, vì giảng sâu cũng không dễ hiểu, để cho những người sơ phát tâm dễ hiểu, ở đây giảng cạn một chút, từ cạn vào sâu, trước từ hiếu đạo bước vào, để biết Phật giáo không phải không chú trọng về chữ Hiếu. Chữ Hiếu trong Phật giáo không phải là chữ Hiếu bình thường, mà là đại hiếu. Cha mẹ đối với con cái có ân, có ân thì phải báo đáp. Vậy phải báo đáp như thế nào. Bộ kinh này sẽ dạy cho chúng ta phương pháp báo ân.

 

Trước khi giảng kinh, đầu tiên giảng về đề kinh. Ðề kinh là tổng cương của một bộ kinh, nói rõ tổng cương thì có thể hiểu rõ đại ý của bộ kinh, vì thế trước giải thích đề kinh. Theo cách giải thông thường, năm chữ “Phật thuyết Vu lan bồn” là tên riêng, vì tên của kinh này và tên của các bộ kinh khác không giống nhau, vì thế gọi là biệt đề. Chữ “kinh” là thông đề, phàm là kinh tạng đều có tên là kinh, vì thế gọi là thông đề. Ðó là ý nghĩa thông biệt của bộ kinh này. Dưới đây sẽ giải thích từng phần:

 

“Phật thuyết”: Là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết ra. Tại sao Ðức Phật thuyết bộ kinh này? Vì Tôn giả Mục Kiền Liên, sau khi đắc được lục thông, muốn tìm cách báo ân nuôi dưỡng của cha mẹ, bèn dùng đạo nhãn, nhìn thấy cha đã sanh thiên, nhìn thấy mẹ đang đọa lạc trong đường ngạ quỷ :

 

Da khô bọc lấy xương gầy,

 

Tuyệt nhiên cơm nước hình hài ốm o.

 

Mục Liên buồn bã âu lo,

 

Bát cơm dâng mẹ mong cho đỡ lòng.

 

Mẹ vừa tiếp bát cơm xong,

 

Tay lo che đậy tay hòng bốc ăn.

 

Than ôi! Nghiệp quả tiền căn,

 

Cơm đưa tới miệng lửa bừng cháy cao.

 

Mẹ không dùng được nghẹn ngào,

 

Mục Liên than khóc kêu gaøo thảm thương. ([i])

 

Vì thế, Tôn giả Mục Liên buồn thương khóc lóc trở về chỗ Phật cầu xin phương pháp giải cứu mẫu thân. Ðây là nguyên nhân phát khởi của bộ kinh này, vì thế Phật thuyết bộ kinh này.

 

“Vu lan bồn”: Vu lan là Phạn ngữ, Tàu dịch là “Cứu đảo huyền”. Vì sự đau khổ trong ba đường ác đạo thực không có cách nào giải thoát, chỉ đành mượn “đảo huyền” để làm ví dụ. Ðảo huyền là cái khổ bị treo ngược. Kỳ thực cái khổ trong ba đường ác đạo còn khổ hơn cái khổ bị treo ngược nhiều, nhưng cái khổ này có cách nào để giải cứu? Vì thế Phật thuyết pháp “Vu lan bồn”. Bồn là chỉ cho đồ đựng thức ăn thức uống, tất cả chén bát đều gọi là bồn, cũng chính là thực cụ dùng để ăn cơm của chúng ta. Nhưng thực cụ này có thể cứu cái khổ treo ngược chăng? Chỉ dùng thực cụ thì không thể cứu cái khổ treo ngược, cần phải dùng đồ ăn trăm món trái cây trăm màu đựng trong bồn này để cúng dường Tăng chúng có giới đức thanh tịnh đã trải qua kỳ an cư kiết hạ Tự tứ. Tại sao cần phải cúng dường Tăng chúng? Vì trong ba tháng Kiết hạ an cư:

 

Thánh Tăng ngày ấy tựu tề,

 

Nào người ẩn náu sơn khê định thiền,

 

Nào người tứ quả hiện tiền,

 

Nào người thọ hạ cần chuyên kinh hành

 

Nào người giáo hóa môn sinh

 

Lục thông chứng đắc phép linh cao vời.

 

Nào người Bồ tát nhiều đời,

 

Kiếp này quyền hiện làm Thầy Tỳ kheo.

 

Các Ngài từ mười phương vân tập cùng nhau kiểm thảo, trong thời gian này giới luật có tinh nghiêm không? Có người giới luật thanh tịnh, không có mảy may vi phạm, có người phạm giới trước mặt đại chúng thành tâm sám hối, cũng có người tuy phạm giới, nhưng mình không biết vì thế tự nguyện để cho tùy ý người khác cử tội ra, nên gọi là Tự tứ. Sau khi Tự tứ, mỗi người đều trước mặt đại chúng theo luật sám hối, sau khi sám hối, mới được thanh tịnh.

 

Vì thế, ngày 15 tháng 7 gọi là ngày Tăng Tự tứ, cũng gọi là ngày Phật hoan hỷ. Vì Tăng chúng sau ngày kiết hạ, sau ngày Tự tứ, có người đắc đạo, có người giới luật thanh tịnh, tu hành tinh tấn, giới đức trang nghiêm, vì thế Phật rất hoan hỷ. Nên biết Ðức Phật không có gì là hoan hỷ hay không hoan hỷ, Ngài không giống như phàm phu chúng ta có phiền não có vui buồn, Ngài là người mà các lậu hoặc đã tận, trí huệ đã viên mãn. Nhưng Phật tùy thuận chúng sanh cũng có lúc hoan hỷ. Vì thế, trong ngày này đem các đồ ăn ngon ngọt ở thế gian cúng dường Phật Pháp Tăng Tam bảo, nương vào công đức cúng dường Tam bảo, nương vào uy thần của Tăng chúng, thì có thể cứu được cái khổ treo ngược của chúng sanh đang đọa lạc trong ba đường khổ. Không những khiến cho cha mẹ hiện đời sống lâu trăm tuổi, không bệnh không khổ không phiền não, mà cho đến cha mẹ bảy đời cũng được lìa khổ được vui. Vì thế kinh này còn gọi là “Kinh báo ân”, báo ân bú mớm nuôi dưỡng của cha mẹ. Không những người xuất gia phải báo ân, mà người tại gia, phàm là ai có cha mẹ đều phải cần báo ân báo hiếu.

 

Có người nói: “Người xuất gia thì không còn nhà nữa”, câu nói này cũng đúng cũng không đúng. Nói người xuất gia không có nhà, là nói không có nhà vợ con trói buộc, đó là đúng. Nhưng cha mẹ vẫn còn, như cha mẹ còn sống, thậm chí không có anh chị em lo lắng, cha mẹ tuổi già rồi, chẳng lẽ xuất gia rồi không quan tâm đến sao? Vẫn phải lo lắng đến. Nhưng đó là hiếu thế gian, chỉ có thể lo lắng săn sóc đời sống hiện nay của cha mẹ. Như cha mẹ đã qua đời, muốn biết cha mẹ đang hưởng vui hay là thọ khổ thì phải nhờ công phu tu hành, sau khi đắc đạo mới biết được. Tôn giả Mục Kiền Liên là một tấm gương soi sáng cho chúng ta. Sau khi theo Phật xuất gia tu học, không biết cha mẹ qua đời đã sanh vào đâu, nên y theo lời Phật dạy bảo dụng công tu hành, quả nhiên công phu không phụ người có chí, khi vừa đắc được thần thông, thì nhìn thấy mẹ đang bị thọ khổ, nhưng không ngờ thần thông mà mình đắc được, chỉ có thể nhìn thấy mẹ mình “tội căn thâm kết” đang chịu khổ mà không có sức cứu độ, vì thế Phật nói : “Một ngươi khó được cứu an”. Nếu không có thần thông thì làm sao có thể nhìn thấy được? Vì thế không thể nói không nhìn thấy thì không có việc này. Chúng ta vì không có thần thông, nhìn không thấy, thường lầm cho rằng “người chết như đèn tắt”, kỳ thực cách nói này không chính xác. Có người làm việc xấu phạm pháp, y theo pháp trừng phạt, đó là ác nhân chiêu cảm ác quả. Nếu không bị người phát hiện, không thể nói rằng không có tội. Ðã có tội, tuy ở nhân thế không bị phát hiện, nhưng sau khi lâm chung vẫn phải bị hình phạt. Vì thế, có nhân gì thì gặt quả báo nấy, như bóng theo hình, không mảy may sai chạy.

 

Tôn giả Mục Liên nếu không đắc đạo, có nghĩa là không thể nhìn thấy mẹ mình đang chịu khổ, nhưng không thể vì không nhìn thấy mà nói mẹ mình không bị khổ đau, điều đó không hợp với sự thật, may mà Tôn giả Mục Liên đắc đạo báo ân, nếu không mẹ đang thọ khổ con không hay biết, đó thật là điều đáng hận biết bao! Làm con cần nên hiểu được đạo lý này. Cha mẹ hiện đời không thể khoâng quan tâm, nên biết đó là hiếu đạo ở đời này. Nếu cha mẹ làm những ác nghiệp thì con cái nên giảng đạo lý cho cha mẹ nghe và hướng dẫn cha mẹ sửa đổi bỏ ác làm lành để trở về con đường hướng thượng. Cha mẹ và con có tình cốt nhục, con khuyên cha mẹ thì sẽ có hiệu quả, nhưng cũng có lúc không phải lập tức có hiệu quả ngay, lúc đó làm con phải có lòng nhẫn nại, dùng đủ mọi cách khéo léo nhắc nhở, cuối cùng thì cũng sẽ khuyên được cha mẹ. Ðiều này còn cao hơn đối với việc lo lắng cuộc sống hiện đời của cha mẹ. Lo lắng cuộc sống hiện tại chỉ là việc một đời, khuyên nhắc cha mẹ làm việc thiện lành là việc dài lâu. Tôn giả Mục Liên trước khi theo Phật xuất gia, không biết thế nào là nhân quả, mẹ làm ác cũng không biết khuyên nhắc, khi Tôn giả Mục Liên xuất gia, hiểu được đạo lý nhân quả, mẹ đã qua đời. Vậy phải làm sao đây? Chỉ có cách nỗ lực tu hành đắc chứng quả chứng đắc thần thông, đó là cách tích cực báo ân nuôi dưỡng của cha mẹ.

 

Câu chuyện “Mục Liên cứu mẹ”, trong dân gian lưu truyền rất rộng, đã phổ thành kịch, cải lương, đưa lên sân khấu để giáo dục con người, vì thế rất nhiều người biết câu chuyện này.

 

Ðại ý quan trọng của bộ kinh này, chính là “Mục Liên dùng pháp Vu lan bồn cứu mẹ”. Pháp Vu lan bồn không những cứu được cha mẹ hiện đời, mà còn có thể cứu được cha mẹ bảy đời. Không phải cứu một lần mà xong, cần phải:

 

Mỗi năm tháng bảy ngày Rằm,

 

Ðem lòng hiếu tử niệm ân sanh thành.

 

Vu lan thiết lễ trai thanh,

 

Cúng dường chư Phật kính thành chư Tăng.

 

Phàm là người đệ tử Phật giáo phải tu hạnh hiếu thuận, cần phải:

 

Phải nên tưởng niệm chuyên cần,

 

Nhớ ơn cha mẹ sanh thân đời này,

 

Mẹ cha thất thế xa dài,

 

Nguồn xưa cội cũ ơn dày kỉnh khâm.

 

Ðó là lời dạy bảo của Ðức Phật. Nếu không thường nhớ nghĩ ân đức cha mẹ, không những bất hiếu với cha mẹ mà còn làm trái với lời Phật dạy. Kinh Phạm Võng nói: “Hiếu gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự đình chỉ mọi sự tội lỗi, sự hiếu thuận đối với cha mẹ, sư trưởng, Tam bảo, là pháp hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng”.

 

Có thể thấy không hành hiếu đạo cũng là phạm giới, tội này rất lớn, là người đệ tử của Phật cần nên vâng theo lời dạy của Ðức Phật để tránh phạm tội.

 

Ở Trung Quốc có nơi hiểu lầm ngày Rằm tháng bảy “Pháp hội Vu lan bồn” là ngày phóng diệm khẩu ([i]), cũng có người dùng giấy làm thuyền lớn, đốt thuyền, thả đèn hoa sen v. v... Kỳ thực, đó không hiểu ý nghĩa Vu lan bồn, không hợp với ý kinh. Khi cúng dường “Vu lan bồn”, Phật dạy rằng:

 

Bấy giờ lời Phật truyền ban,

 

Mười phương Tăng chúng các hàng dạy qua.

 

Trước nên chú nguyện đồng hòa,

 

Cầu cho thí chủ mẹ cha bảy đời,

 

Hành thiền định ý không lơi,

 

Sau rồi thọ thực sau rồi niệm Kinh,

 

Có thể thấy pháp Vu lan bồn này không chỉ là cúng dường thức ăn, mà trước khi cúng dường thọ thực, mà cần phải “chú nguyện”, “hành thiền định ý”, đó chính là pháp, không có pháp này làm sao có thể cứu được cái khổ treo ngược ? Chú nguyện và hành thiền là pháp chủ yếu nhất của Vu lan bồn, không thực hành pháp này, Vu lan bồn chỉ là một hình thức.

 

Do vì tuân theo lời Phật dạy như pháp thưïc hành, sau khi chú nguyện hành thiền:

 

Sự kiện
Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng. NĂNG LỰC CỦA HAI LỜI CẦU NGUYỆN trong Khóa tu trì tụng Đức Liên Hoa Sinh --- Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng. Vào ngày ấy, tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên, đại chúng sẽ cùng nhau trì tụng 25 thời cầu nguyện Đức Liên Hoa Sinh như ý Thành tựu, cùng cử hành pháp hội Trường Thọ và cúng dường Tshog, cùng trì tụng Tôn Thắng Phật Mẫu và Bạch Độ Mẫu. BARCHE LAMSEL – Lời cầu nguyện Tiêu trừ mọi chướng ngại trên đường tu Đây là kho tàng Terma được khai mở, được xem là một trong những lời cầu nguyện uy lực bậc nhất để hóa giải chướng ngại: chướng ngại của thân (bệnh tật, tai nạn), chướng ngại của hoàn cảnh (thị phi, đổ vỡ, mất mát), và chướng ngại vi tế nhất – chướng ngại của tâm khiến ta không thể tiến bước trên đường tu. SAMPA LHUNDRUB – Lời cầu nguyện Thành tựu mọi ước nguyện một cách tự nhiên Chính Đức Liên Hoa Sinh đã thệ nguyện: bất kỳ ai trì tụng lời cầu nguyện này với niềm tin không nghi ngờ, tâm nguyện chân chính của người ấy sẽ được thành tựu – không phải bằng nỗ lực gắng gượng, mà tự nhiên như trái chín rụng xuống. Hai mươi lăm thời trì tụng trong một ngày không phải là một con số để hoàn thành. Đó là một hành trình đưa tâm đi từ ồn ào đến tĩnh lặng, từ hoài nghi đến tin tưởng, từ cầu xin đến hợp nhất. Cùng với đó, thời khóa Trường Thọ – Tôn Thắng Phật Mẫu – Bạch Độ Mẫu là pháp tu bậc nhất để tịnh hóa nghiệp chướng đoản mệnh, tăng trưởng thọ mạng, sức khỏe, phúc đức và trí tuệ – không chỉ cho bản thân, mà hồi hướng cho cha mẹ, người thân đang bệnh duyên, và tất cả chúng sinh hữu duyên. VÌ SAO CHUYÊN TU TẠI ĐẠI BẢO THÁP MANDALA TÂY THIÊN? Kinh điển dạy rằng: cùng một lời cầu nguyện, cùng một câu minh chú, khi được trì tụng trong không gian linh thiêng của Bảo tháp, công đức được nhân lên gấp bội. Không phải vì Bảo tháp ban phát điều gì, mà vì nơi ấy tâm ta dễ dàng lắng xuống, dễ dàng mở ra, dễ dàng tin tưởng – và chính sự mở ra ấy là điều kiện để ân phúc gia trì có thể thấm vào. Bạn có thể trì tụng ở nhà. Điều đó rất quý. Nhưng có những điều chỉ xảy ra khi bạn có mặt: Khi hàng trăm người cùng cất lên một lời cầu nguyện, âm thanh ấy không còn là của riêng ai – nó trở thành một dòng chảy nâng đỡ tất cả, kể cả những người đang mệt mỏi, đang phân tâm, đang muốn bỏ cuộc. Khi thân bạn ngồi yên trong Mandala suốt một ngày, tâm bạn học được điều mà mười ngày đọc sách không dạy nổi: sự kiên trì. Khi bạn dâng một phẩm vật lên đàn Tshog, bạn không cúng dường cho một pho tượng – bạn đang cắt đứt thói quen bám giữ đã theo mình nhiều đời.
Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Đại Đình, Phú Thọ)
Thứ sáu, ngày 24/07/2026
0
Ngày
:
08
Giờ
:
51
Phút
Đăng ký sự kiện
Lịch tu tập tháng 7 năm 2026 tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên
Quý đạo hữu hoan hỷ lưu lại lịch, lên kế hoạch tham dự và chia sẻ tới người thân, bạn bè:
  • 24/07 (Thứ sáu) Khóa tu Liên Hoa Sinh & Khoá tu Hộ Pháp Mahakala
  • 27/07 (Thứ hai) Khóa Lễ cầu siêu độ chư Hương linh - Ngày thương binh - liệt sĩ
  • 28/07 (Thứ ba) Khóa tu Quan Âm- Tam bộ Tài Thiên
👉 Xem lịch chi tiết và đăng ký tham dự tại đây