Bảo tháp - Biểu tượng tâm giác ngộ và trí tuệ Phật | Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên | Đại Bảo Tháp | Đại Bảo Tháp Tây Thiên

Bảo tháp - Biểu tượng tâm giác ngộ và trí tuệ Phật

Kiến trúc Mandala Phật giáo thể hiện sự hợp nhất của vũ trụ bên ngoài với thân giác ngộ Phật, đồng thời là cảnh giới Tịnh độ, nơi vân tập của hải hội chư Phật. Trong truyền thống Phật giáo Kim Cương thừa phổ biến tại các quốc gia vùng Hymalaya như Ấn độ, Nepal, Bhutan, các Bảo tháp được kiến lập theo kiến trúc Mandala. Kiến trúc này tạo nên không gian liên tưởng rộng lớn, gỡ bỏ khoảng cách che chướng giữa chúng sinh luân hồi và cảnh giới Tịnh độ nhằm chấm dứt sự khổ đau, thành tựu hạnh phúc giác ngộ.  Việc xây dựng một Bảo tháp tạo ra công đức không thể nghĩ bàn. Kiến lập Bảo tháp không chỉ giúp tịnh hóa chướng ngại mà còn đem lại lợi ích cho hàng ngàn năm và bao nhiêu thế hệ mai sau.

Lịch sử và ý nghĩa Bảo tháp

Theo lịch sử Phật giáo, Bảo tháp xuất hiện từ thời Phật còn tại thế. Thời đó Ngài Xá Lợi Phất, một đệ tử trí tuệ của Đức Phật đã thị hiện viên tịch trước Phật. Sau lễ trà tỳ, nhục thân của Ngài Xá Lợi Phất để lại xá lợi. Xá lợi được cất giữ trong Tăng xá để mọi người đến chiêm ngưỡng lễ bái. Tuy nhiên, có hôm Tăng xá bận công việc đi ra ngoài, phải đóng cửa khiến dân chúng buồn khổ và phiền não.

Vì nhân duyên đó Phật dạy phải xây dựng Bảo tháp để chứa đựng xá lợi. Bảo tháp không chỉ chứa đựng xá lợi, pháp khí, tượng Phật mà còn là một Mạn Đà La hoàn hảo, nơi vân tập của hải hội chư Phật Bản tôn, Không Hành Mẫu, Hộ pháp, và cũng là biểu tượng trí tuệ của Phật.


Tháp Xá Lợi Phất, Nalanda (Ấn Độ)

Bảo tháp bên ngoài

Đối với giáo lý thế gian thông thường, mọi người nghĩ rằng vũ trụ được hình thành nhờ ngũ hành (kim, thủy, hỏa, mộc, thổ), sự sinh khắc của ngũ hành tạo nên cảnh sống và đời sống của con người. Theo quan điểm Phật giáo Kim cương thừa, vũ trụ được hình thành dựa vào lục đại duyên khởi -  địa, thủy, hỏa, phong, không, (năm đại thành lập nên vạn pháp) và  thức đại (thuộc về tâm - tinh thần).

Chính vì vậy khi một Bảo tháp được xây lên dựa trên ngũ đại nêu biểu một vũ trụ nhỏ hoàn hảo của cảnh giới giác ngộ:

  • Đại đầu tiên gọi là Địa đại theo khối hình vuông màu vàng.

  • Đại thứ hai là Thủy đại theo hình tròn.

  • Đại thứ ba là Hỏa đại theo hình tam giác, đó là tầng mắt Phật và 13 tầng của Bảo tháp. Mười ba tầng này nêu biểu cho Thập Địa, tức là 10 phần Pháp thân mà các Bồ tát phải chứng ngộ, cộng với Diệu giác, Đẳng giác và Viên giác thành 13 quả vị Pháp thân Phật.

  • Kế đến trên đó có một Bảo cái nêu biểu sự che chở cho tất cả chúng sinh khỏi những sự đau khổ, phiền não.

  • Trên Bảo cái là hình mặt trăng và mặt trời nêu biểu cho Phong đạiKhông đại.

  • Đỉnh cao nhất của Bảo tháp gọi là đỉnh Bất nhị.


    Cấu trúc của một Bảo tháp

Như vậy, Đức Phật đã giảng thuyết toàn bộ kiến lập về bảo tháp bên ngoài. Và ngay từ thời Phật, các đệ tử của Ngài, vua và quần thần đã xây dựng các bảo tháp, đặc biệt tám Bảo tháp tương ứng với tám sự kiện, gọi cách khác là tám công hạnh của cuộc đời Đức Phật (Bát Tướng Thành Đạo) từ lúc Ngài đản sinh, xuất gia, tu khổ hạnh, đạt giác ngộ, chuyển pháp luân, báo ân cha mẹ, cầu nguyện trường thọ, cho đến khi thị hiện nhập Niết Bàn.

Trên phương diện lịch sử kiến trúc, chúng ta có tám loại tháp đều khởi nguồn từ thời đức Phật là:

1. “Như Lai tháp” hay “Tích Liên tháp” do vua Tịnh Phạn xây dựng tại Lâm Tỳ Ni thành Ca Tỳ La Vệ vào lúc Đức Phật Thích Ca đản sinh. Tháp hình tròn được trang sức bằng những cánh hoa sen, có bốn hoặc bảy bậc thềm.


Như Lai Tháp

2. “Tháp Giác Ngộ” hay “Tháp Bồ Đề" do vua Tần Bà Sa La cho xây dựng tại thành Vương Xá khi đức Phật thành đạo. Tháp có bốn bậc thềm.


Tháp Giác Ngộ

3. “Tháp Pháp Luân” hoặc “tháp Cát Tường”: do năm anh em Ông Kiều Trần Như xây dựng vào lúc đức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại nước Ba La Nại. Tháp này hình vuông có bốn bậc thềm, bậc thang ngoài Tháp được bố trí có nhiều cửa.


Tháp Pháp Luân

4. “Đại Thần Biến tháp” hoặc “Tháp Hàng Phục Ngoại Đạo”  do những người thuộc dòng tộc Ly Giá Tỳ ở thành Xá Vệ xây dựng khi đức Phật thị hiện thần thông. Tháp này hình vuông có bốn bậc thềm ở bốn phương, ở giữa bốn bậc thềm có vật kiến trúc nhô ra.

Đại Thần Biến Tháp

5. “Thần Giáng tháp” hay “Tam Thập Tam Thiên Giáng tháp”: khi đức Phật an cư kết hạ 33 ngày; buổi sáng Ngài lên thiên giới thuyết pháp cho chư Thiên, buổi chiều giáng lâm xuống Nam Thiện Bội Châu. Những người ở thành Gia Thi đã xây dựng Tháp này. Tháp có bốn hoặc tám bậc thềm, có cửa ở chính giữa mỗi mặt của tháp.

Thần Giáng Tháp

6. “Quang Minh tháp” hoặc “Chân Từ tháp”: sau khi Đề Bà Đạt Đa chia rẽ tăng đoàn, hai vị Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã giúp Tăng đoàn hòa hợp, đoàn kết trở lại, vì thế ngài Kỳ Đà và một số người ở Kim Cương tọa đã xây dựng Tháp này tại thành Vương Xá.


Quang Minh Tháp

7. “Gia Bị tháp” hoặc “Tôn Thắng tháp” do người ở thành Quảng Nghiêm xây dựng khi đức Phật thực hiện lễ cầu nguyện trường thọ tại đây.


Gia Bị Tháp

8. “Tháp Niết Bàn” do người ở thành Câu Thi La xây dựng khi đức Phật nhập Niết bàn. Tháp này không có bậc thềm, tháp hình chuông úp trên nền đỉnh tháp có 13 tầng pháp luân.


Tháp Niết Bàn

Hiện nay trên thế giới có một số Bảo tháp nổi tiếng như Bảo tháp Mandala Kim Cương giới tại Indonesia, Bảo tháp Bodhgaya ở Bồ đề đạo tràng Ấn Độ, Bảo tháp Swayambhu, Bảo tháp Boudhanath ở Nepal, bảo tháp Ăng-co ở Campuchia… Đặc biệt, trên đỉnh núi Punakha, ở vương quốc Bhutan, có 108 Bảo tháp do hoàng hậu xây dựng để cầu nguyện cho vị Vua được trường thọ. Bởi vì theo lời nguyền, tất cả vua ở các triều đại Bhutan không sống quá 50 tuổi. Lúc đó vua chỉ khoảng 47 hoặc 48 tuổi, hoàng hậu rất lo lắng và nghĩ rằng để có thể chuyển định mệnh của vua cũng như đem lại bình an cho đất nước cách tốt nhất là kiến lập 108 bảo tháp từ đỉnh Thimphu sang Punakha. Sau khi xây cất xong 108 Bảo tháp, vị vua đó duy trì ngôi vị đến ngoài 50 tuổi, đợi hoàng tử trẻ kế vị.

Tương truyền kể rằng người dân ở trên đỉnh Punakha trong quá khứ thường bị ma quỷ quấy nhiễu không an, chết bất đắc kỳ tử rất lạ lùng. Ngài Thánh điên Drukpa Kunley khi đó đã dò tìm được nơi huyệt đạo của vùng đất, biết được khí tiêu cực từ đó xuất ra nên cũng đã xây một Bảo tháp trấn yểm, lập tức từ đó không xảy ra những tai nạn xấu nữa.


108 Bảo tháp trên đèo Dochula, Punakha (Bhutan)

Vì vậy việc kiến lập Bảo tháp theo quan kiến Phật giáo Kim Cương Thừa có thể tịnh trừ chướng ngại, đem lại sự bình an. Ngay cả trong phương pháp thực hành Mật Thừa, khi chúng ta gặpnhững chướng ngại, đến những nơi lạ lùng, chúng ta phải quán tự thân là một Bảo tháp giác ngộ, lập tức chướng ngại được tiêu trừ.

Kiến lập Bảo tháp tâm linh bằng pháp Trì tháp

Việc xây dựng một bảo tháp cần hai phần: Xây dựng Bảo tháp bên ngoài là từ vật chất hình thành hình dáng kiến trúc, tượng tháp, sắp đặt, gia trì. Việc xây dựng bảo tháp bên trong chính là trí tuệ và động cơ thanh tịnh.

Mỗi chúng ta có thể chưa đủ duyên để xây dựng Bảo tháp thực sự nhưng có thể tạo nên một bảo tháp tâm linh trí tuệ. Đức Phật cũng dạy: “Ai có những tâm nguyện như cầu trường thọ, công danh sự nghiệp, tịnh trừ chướng ngại hãy đến nơi thanh tịnh họa hình Bảo tháp lên cát và bắt đầu trì tụng Chân ngôn cho đến khi thấy dấu hiệu thành tựu. Hoặc nếu như không đến được những nơi linh địa, thì có thể ngay tại nơi thanh tịnh trong tư gia, họa hình Bảo Tháp trên giấy rồi điểm dấu lên trên Tháp để trì tụng cho đủ Pháp số thành tựu. Khi đó, tất cả tâm nguyện thế gian và xuất thế gian hướng đến giải thoát giác ngộ của người trì Tháp sẽ đều thành tựu viên mãn!”.

  • Nếu chúng ta tu tập phương pháp trì tháp với một động cơ thanh tịnh, trí tuệ, chắc chắn công đức không thua kém gì việc xây một bảo tháp thực sự.

  • Còn nếu chúng ta chỉ thực hành cho có phong trào, cho có quần chúng, thực hành cho đủ số biến để cho thấy rằng ta có thể trì được 10 tháp, 108 tháp, 444 tháp, với một động cơ so bì, không thanh tịnh thì chắc chắn công đức sẽ hạn chế.

Bởi Bảo tháp không chỉ là biểu tượng  giác ngộ được hiện diện bằng kiến trúc xây dựng bên ngoài mà Bảo tháp chính là biểu tượng tâm giác ngộ và trí tuệ Phật, việc chúng ta trì tụng xây một Bảo tháp tràn đầy tình yêu thương và lòng bi mẫn, tràn đầy Bồ đề tâm thì công đức đó  không thể nghĩ bàn, nhân thiên không thể dùng lời lẽ thông thường tán thán.

Pháp tu thực hành trì Tháp này liên quan đến pháp thực hành về Đức Phật Quan Âm, Đức Phật của Lòng Từ bi. Ngài cũng là vị Phật rất gần gũi và được nhiều người dân Việt Nam biết đến. Ngài được coi là  người mẹ hiền, sẵn sàng  hiện các ứng hóa thân khác nhau cứu độ tất cả chúng sinh giải thoát. Thực tế, Đức Quan Thế Âm nêu biểu cho lòng từ bi của mười phương chư Phật, lòng từ bi của chính bản thân chúng ta. Chúng ta hãy cùng bắt tay tự mình tích lũy công đức và trí tuệ bằng cách kiến lập Bảo tháp tâm linh Đức Phật Quan Âm với động cơ thanh tịnh mong muốn đến hòa bình, an lạc cho bản thân, người thân trong gia đình, xã hội và rộng khắp thế giới này.

Chân ngôn Đức Phật của Tình Yêu Thương và Lòng Bi Mẫn
(Do Đức Gyalwang Drukpa trì tụng)

 

 

Viết bình luận

Chúc mừng năm mới
Copyright © 2015 daibaothapmandalataythien.org. All Rights Reserved.
Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Email: daibaothapmandalataythien@gmail.com

Đăng ký nhận tin mới qua email
Số lượt truy cập: 1719963
Số người trực tuyến: