Báo VnExpress - Đức Gyalwang Drukpa: Mỗi ngày tôi đều nguyện cầu hòa bình

Tin vào sức mạnh của tu tập và năng lượng tích cực từ mỗi cá nhân, Đức Gyalwang Drukpa cho rằng chuyển hóa nội tâm là cách bền vững để góp phần thay đổi cộng đồng và thế giới.

Đức Pháp Vương Gyalwang Drupkpa đời thứ 12 gắn bó với Việt Nam gần hai thập niên, lần thứ 13 trở lại đúng vào dịp giỗ Tổ Hùng Vương. Nhân Pháp hội nguyện cầu quốc thái dân an, hòa bình thế giới tổ chức tại Mandala Tây Thiên. VnExpress phỏng vấn ông về góc nhìn tâm linh trước những biến động thế giới và cách giúp mỗi người thân tâm an lạc.

Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ 12 - lãnh đạo tinh thần Truyền thừa Drukpa. Ảnh: Hoàng Giang

- Trở lại Việt Nam lần thứ 13 trong bối cảnh thế giới đối mặt nhiều biến động như chiến tranh, xung đột, khủng hoảng năng lượng và chia rẽ cộng đồng, ngài nhìn nhận những thách thức này ra sao?

- Thật đáng buồn khi thế giới đang trải qua nhiều biến động và hỗn loạn. Tuy vậy, mỗi người vẫn cần giữ thái độ tích cực và nuôi dưỡng lòng bao dung. Dù hôm nay khó khăn, ngày mai chúng ta vẫn phải tìm kiếm những điều tích cực để bồi đắp nội lực. Buồn bã không giúp ích gì; nếu để tuyệt vọng kéo dài, con người sẽ càng chìm sâu hơn, và đó không phải là cách sống lành mạnh.

Thực hành, năng lượng tâm linh và lòng từ bi có thể nâng đỡ con người vượt qua khủng hoảng. Khi mỗi cá nhân chuyển hóa bản thân theo hướng tích cực, thế giới cũng sẽ dần thay đổi.

Từ miền đất Tổ các Vua Hùng đến thánh địa Quốc Mẫu Tây Thiên đều mang lại những trường năng lượng rất tích cực. Chúng tôi vừa hành hương về đền Hùng. Hành trình đi bộ từ chân núi qua hàng trăm bậc đá để lên đền Thượng không hề dễ dàng. Thông thường việc leo bậc khá vất vả, nhưng lần này tôi cảm nhận được một nguồn năng lượng rất đặc biệt. Không chỉ riêng tôi, mọi người đều có thể vượt qua hành trình ấy. Tôi tin người Việt Nam nhận được rất nhiều năng lượng tích cực từ vùng đất Tổ này.

- Liệu một người đang sống giữa thế giới hỗn loạn có thể đạt được thân tâm bình an thực sự chỉ bằng cách cầu nguyện, tu tập?

- Đạo Phật, cũng như nhiều tôn giáo khác từ bản địa đến toàn cầu, có thể khác nhau về truyền thống nhưng phần lớn đều hướng đến những giá trị tốt đẹp và thiện lành. Vấn đề nằm ở chỗ con người thực hành chưa đủ hoặc chưa đúng nên chưa đạt được thành tựu tâm linh và sự bình an nội tại. Cũng như leo núi, con đường vốn trơn dốc, nếu không có nỗ lực liên tục thì không thể tiến lên. Hay như việc đọc hàng trăm trang kinh Phật nhưng chỉ lật giở vài trang rồi dừng lại. Thực hành tâm linh chưa đủ sâu chính là lý do khiến con người chưa thể chuyển hóa bản thân.

Một nguyên nhân khác là ở một số nơi, cách tiếp cận và thực hành tôn giáo vẫn còn mang tính khuôn mẫu, khép kín, chưa thực sự giúp con người mở rộng trái tim và đi vào chiều sâu. Trong khi điều cần thiết là sự chân thành, cởi mở và tự nguyện.

Lễ Phật, thắp hương, đi nhiễu tháp... đều là những thực hành tốt đẹp nhưng chưa đủ. Quan trọng là biến giáo pháp thành trải nghiệm sống, đưa vào thực hành trong đời sống hàng ngày để chuyển hóa nội tâm và hướng tới cuộc sống an lạc. Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển nội lực và sự an bình bên trong.

Chùa chiền, tự viện có ở nhiều nơi, nhưng không thể trực tiếp chỉ dẫn con người. Vai trò đó thuộc về những bậc thầy đang sống, truyền giảng giáo pháp và dẫn dắt mọi người đi trên con đường thực hành tâm linh chân chính.

Một vị tăng sĩ Truyền thừa Drukpa cúng dường trong lễ cầu siêu tại Mandala Tây Thiên, tháng 2/2026. Ảnh: Giang Huy

- Thực hành cá nhân có thể đóng vai trò như thế nào trong việc tạo ra những thay đổi rộng lớn hơn cho thế giới, chẳng hạn ảnh hưởng đến các quyết định của nhà lãnh đạo?

- Như tôi đã nói từ đầu, thế giới càng biến động thì con người càng cần giữ được thái độ tích cực từ nội tâm. Khi mỗi người nỗ lực cầu nguyện, thực hành và giảng dạy một cách chân thành cho cộng đồng, giáo pháp sẽ dần được lan tỏa. Những bậc thầy có thể truyền giảng cho hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn người, và khi những bài giảng ấy được lan truyền rộng rãi, nhiều người sẽ có những chuyển biến tích cực từ trong tâm.

Biết đâu, một ngày nào đó những giáo lý này có thể đến với bất kỳ ai, kể cả các nhà lãnh đạo trên thế giới. Điều này nghe có vẻ lạc quan, nhưng ý nghĩa sâu xa là mọi sự thay đổi đều bắt đầu từ việc lan tỏa nhận thức tích cực trong xã hội.

Phật giáo Kim cương thừa tin rằng lời nguyện cầu có thể truyền đi năng lượng tích cực và được cảm nhận. Vì vậy, cầu nguyện là một phần quan trọng trong thực hành. Mỗi tối, nếu không quá mệt, tôi đều dành ít nhất một giờ để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, gửi đi những thông điệp thiện lành bằng sự chân thành từ đáy lòng, với hy vọng mang lại nguồn năng lượng tích cực cho cộng đồng và thế giới.

- Nhiều người, đặc biệt là người trẻ với tư duy khoa học thực chứng, đặt câu hỏi liệu nguyện cầu hay thực hành tâm linh có thực sự tạo ra thay đổi hay chỉ dừng ở tác dụng như một liệu pháp tinh thần. Ngài nhìn nhận điều này như thế nào?

- Theo hiểu biết của tôi, cầu nguyện cũng có tính khoa học, nhưng là một dạng khoa học rất tinh tế, đến mức có thể gọi là "mang tính huyền bí". Ngay cả các nhà khoa học đôi khi cũng khó quan sát bằng những công cụ thông thường, còn con người nói chung càng khó nhận ra, không phải ai cũng có thể hiểu ngay.

Tuy vậy, khi việc thực hành và nguyện cầu thực sự phát huy tác dụng, người trải nghiệm sẽ nhận ra và có thể tự kiểm chứng. Khi đó, họ sẽ tự hỏi: "Ồ, điều này thực sự hiệu quả, vì sao lại như vậy?".

Quay kinh luân- tức bánh xe cầu nguyện hình trụ xoay trên trục trung tâm có quấn chân ngôn nhà Phật là một trong những hình thức tu tập của Kim cương thừa. Ảnh: Giang Huy

- Nhiều người vẫn có thể nhầm lẫn giữa tâm linh và mê tín. Làm thế nào để phân biệt và đi theo con đường đúng đắn?

- Với tôi, tâm linh là sự chí thành và niềm tin đã được trải nghiệm, kiểm chứng. Khi bạn trực tiếp chứng kiến hoặc tự mình trải qua, niềm tin mới thực sự hình thành. Như khi tôi thực hành các pháp tu về chư Phật bản tôn, rèn luyện lòng từ bi và tình thương, tôi cảm nhận được kết quả, tác động cũng như nguồn năng lượng tích cực từ việc tu tập. Tôi gọi đó là tâm linh.

Ngược lại, mê tín là những điều con người không thể nhìn rõ mà chỉ suy đoán. Nó mang tính may rủi, có khi đúng, có khi sai. Ví dụ có người cho rằng ban đêm không nên để ngửa chiếc cốc rỗng vì linh hồn sẽ trú ngụ bên trong, mà phải úp xuống. Đó là mê tín, bởi không thể xác định đúng sai, chỉ là những giả thuyết thiếu căn cứ.

Trong khi đó, tâm linh là điều có thể nhận biết thông qua quá trình thực hành. Tại bảo tháp Swayambhunath linh thiêng ở Nepal, tôi từng nghe kể về những người hiếm muộn đã có con nhờ cầu nguyện, trì chân ngôn và tu tập. Ban đầu, khi chưa rõ thực hư, ta có thể xem đó là mê tín. Nhưng khi trực tiếp chứng kiến điều này xảy ra với các đệ tử của mình, tôi hiểu đó không còn là mê tín, mà là trải nghiệm tâm linh thực sự.

- Một trong những khác biệt của Truyền thừa Drukpa là con người thông qua thực hành có thể đạt được giác ngộ ngay trong đời này mà không phải chờ đến kiếp khác. Bằng thuyết pháp và chứng thực của mình, ngài chia sẻ thế nào về điều này?

- Tôi không biết điều đó có hoàn toàn khác biệt so với các dòng truyền thừa hay truyền thống Phật giáo khác không. Nhưng tôi có thể chắc chắn rằng giác ngộ trong một đời là điều hoàn toàn có thể.

Nếu giáo lý được thực hành một cách rõ ràng, đúng đắn và nhất tâm thì chắc chắn sẽ dẫn đến giác ngộ. Người hành trì có thể trở thành A Di Đà, Quán Thế Âm, thành tựu giác ngộ hoàn toàn. Song vấn đề ở chỗ phần lớn thực hành còn chưa đủ.

Lãnh đạo tinh thần Truyền thừa Drukpa có pháp danh Jigme Pema Wangchen, sinh năm 1963 trong gia đình hành giả Kim cương thừa có tiếng tại Ấn Độ. Ảnh: Hoàng Giang

- Trong ba ngày Pháp hội cầu quốc thái dân an, ngài sẽ khai mở thiền thư, thỉnh chuông nguyện cầu hòa bình thế giới. Làm thế nào để những người lần đầu tham dự thực sự bước vào thực hành chứ không đơn thuần chỉ là người dự hội?

- Quan trọng nhất là bạn hãy cởi mở lắng nghe và đón nhận giáo pháp, để sau khi rời nơi này có đầy cảm hứng, mang theo tâm thế tích cực để chuyển hóa cuộc sống.

Bản thân tôi thấy may mắn khi có cơ hội đóng góp thời gian, nỗ lực và những lời cầu nguyện của mình. Càng ý nghĩa hơn khi Pháp hội diễn ra cùng thời điểm người Việt kỷ niệm Giỗ Tổ Hùng Vương và sau đó là mừng ngày thống nhất, hoàn toàn hòa bình.

Trong gần hai thập niên qua, tôi đã đến Việt Nam 13 lần. Đó là một mối nhân duyên sâu sắc. Mỗi lần trở lại, tôi đều cảm thấy hoan hỷ và được truyền thêm cảm hứng.

Thành thật mà nói, có lúc tôi nghĩ mình không nhất thiết phải quay lại. Năm trước đã đến, năm nay có thể dành thời gian cho những lịch trình khác trên thế giới. Nhưng rồi cuối cùng, tôi vẫn trở lại Việt Nam, như một điều rất tự nhiên.

Có thể nói, giữa tôi và Việt Nam tồn tại một mối nhân duyên đặc biệt sâu sắc.

Quần thể bảo tháp Mandala Tây Thiên mang đậm kiến trúc Phật giáo Kim cương thừa. Ảnh: Giang Huy

- Trong gần hai thập niên gắn bó ấy, điều gì khiến ngài lựa chọn Việt Nam để xây dựng Đại bảo tháp Mandala Tây Thiên - công trình đã tròn 15 năm và mang đậm dấu ấn của ngài?

- 15 năm thực sự không phải quãng thời gian ngắn. Mỗi khi nhìn lại, tôi vẫn cảm thấy xúc động và tràn đầy hứng khởi. Những nhân duyên trong đời luôn vận hành theo cách riêng, có khi được sắp đặt từ nhiều kiếp trước, dù đôi lúc chúng ta không nhận ra lý do.

Tôi gặp Ni sư Thích Minh Giác, Trụ trì Đại bảo tháp Mandala Tây Thiên hiện nay, lần đầu vào năm 2004 khi chủ trì Pháp hội Sáu sức trang hoàng của Đức Naropa tại Ladakh, Ấn Độ - sự kiện lớn 12 năm mới tổ chức một lần. Khi đó, ni sư đã thỉnh tôi về Việt Nam.

Có lẽ một mối nhân duyên đặc biệt từ quá khứ đã đưa tôi đến Tây Thiên, vùng đất mang nguồn năng lượng mẫu tính mạnh mẽ. Ngày nay, nguồn năng lượng này đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng hy vọng về hòa bình thế giới.

Mandala Tây Thiên năm 2015. Ảnh: Thang Thang

Tôi mang một tâm nguyện và linh kiến mạnh mẽ về việc kiến lập đại bảo tháp. Nhiều năm sau, tôi vẫn nhớ rõ khoảnh khắc đặt viên đá đầu tiên, thực hiện gia trì và các nghi thức khởi dựng. Khi đó công việc rất bận rộn, nhưng cảm giác như mọi việc chỉ mới diễn ra cách đây vài tuần. Thời gian trôi qua nhanh đến khó tin.

Trong 15 năm qua, chư ni, chư tăng cùng cộng đồng và chính quyền địa phương đã dồn nhiều tâm sức để kiến lập công trình tâm linh này. Tất cả đều hướng đến lợi lạc chúng sinh và cho mảnh đất này, không vì mục đích nào khác. Đó là 15 năm của nỗ lực, của cầu nguyện và của tâm chí thành, một thành tựu rất đáng trân trọng.

Từ tâm nguyện ban đầu xây dựng đại bảo tháp, nguồn năng lượng ấy đã lan tỏa, mang lại những chuyển biến tích cực cho cộng đồng, cho vùng đất này và trên nhiều phương diện khác. Đó là điều tôi cảm nhận rõ.

Chúng ta đã tạo dựng một nền tảng để các thế hệ tiếp nối có thể kế thừa và phát triển trong tương lai, không chỉ vài chục năm mà có thể kéo dài hàng trăm năm sau.

Lãnh đạo Truyền thừa Drukpa giao lại tranh có thủ ấn cho ni sư Thích Minh Giác, Trụ trì đại bảo tháp Mandala Tây Thiên, khi làm lễ gia trì khai mở tháp Namgyelma - công trình nằm trong quần thể Mandala Tây Thiên, năm 2025. Ảnh: Giang Huy

- Truyền thừa Drukpa công nhận ngài là tái sinh chuyển thế của Gyalwang Drukpa đời thứ 11 và trở thành vị lãnh đạo tinh thần đời thứ 12. Tái sinh chuyển thế là điều mà khoa học khó lý giải được. Bằng thuyết pháp và chứng thực, ngài có thể chia sẻ thêm về câu chuyện của mình?

- Khái niệm tái sinh vừa truyền cảm hứng nhưng cũng dễ gây hiểu lầm. Nhiều bậc cha mẹ ngày nay đưa con đến gặp tôi và nói rằng "Con tôi là một vị đặc biệt nào đó, xin hãy ấn chứng điều này". Họ cho biết đã được báo mộng nên tin đứa trẻ là một vị tái sinh đặc biệt. Tôi thường phải trả lời rằng tôi không thể ấn chứng điều đó. Nhưng nhiều người vẫn tìm đến với yêu cầu tương tự.

Câu chuyện của tôi khác. Việc được xác nhận là hóa thân chuyển thế không xuất phát từ mong cầu cá nhân mà là sự công nhận đồng thời của nhiều bậc thầy tâm linh vĩ đại.

Cha tôi, Đức Bairo Rinpoche, là một bậc Thượng sư chứng ngộ, hóa thân đời thứ 36 của đại dịch giả Vajrochana - một trong 25 đại thành tựu giả của Đức Liên Hoa Sinh. Ông không mong muốn tôi trở thành một hóa thân chuyển thế hay đảm nhận vai trò lãnh đạo tâm linh, vì cho rằng điều đó sẽ mang lại nhiều áp lực, và từng khuyên tôi nên sống một cuộc đời yên bình.

Tuy nhiên, cùng lúc, nhiều vị Thượng sư đã đến thỉnh cầu cha mẹ đưa tôi đi. Họ kiên quyết rằng tôi là một bậc hóa thân. Nói vui thì giống như "bị bắt cóc", nhưng tôi lại rất vui khi đi cùng họ. Câu chuyện rất dài, nhưng cuối cùng họ đã tìm thấy, đưa tôi đi và tấn phong là Gyalwang Drukpa đời thứ 12. Các bậc Thượng sư và nhiều lãnh đạo của các dòng truyền thừa khác nhau cũng xác nhận điều này.

Khi đó tôi mới 4 tuổi. Vài ngày trước khi họ đến, tôi đã nói với cha mẹ rằng mình sắp phải rời đi, liên tục nói lời tạm biệt khiến mẹ tôi bật khóc. Tôi thích mặc áo đỏ và vàng - màu y phục của một vị tăng sĩ. Khi cha vắng nhà, tôi thường mặc thử tất cả y phục của ông để trông giống một Thượng sư. Khi biết chuyện, cha tôi rất lo lắng, vì ông hiểu rằng nếu điều đó xảy ra, cuộc đời sau này của tôi sẽ rất bận rộn và nhiều thử thách.

Lãnh đạo tinh thần Truyền thừa Drukpa thời niên thiếu. Ảnh: Drukpa Việt Nam

- Việc tiếp nhận trọng trách của một dòng truyền thừa lịch sử nghìn năm từ khi còn rất nhỏ, đặc biệt khi tuổi thơ gắn với quá trình thọ lĩnh giáo pháp nghiêm khắc, đã ảnh hưởng đến ngài như thế nào và ngài nhìn nhận điều đó ra sao?

- Khi nhìn lại, tôi nghĩ là có. Đó thực sự là một hành trình rất gian khổ. Trong 8 năm, tôi phải học thuộc gần như toàn bộ kinh điển và sách vở, đến năm 13 tuổi đã ghi nhớ hầu hết. Sau đó, tôi tiếp tục học triết học dưới sự hướng dẫn của nhiều bậc thầy truyền thống rất nghiêm khắc.

Năm 17 tuổi, bậc Căn bản Thượng sư của dòng truyền thừa viên tịch, toàn bộ trách nhiệm được chuyển giao cho tôi, từ những việc lớn đến nhỏ. Có những lúc tôi rất cần sự hỗ trợ, nhưng vẫn phải cố gắng gánh vác vai trò của mình. Dù hoàn tất việc học vào năm 25 tuổi, con đường tu hành không dừng lại ở đó, mà tiếp tục cho đến khi đạt được giác ngộ, thì việc trưởng dưỡng tâm linh mới có thể xem là hoàn tất.

Đó là một hành trình đầy thử thách, kéo dài liên tục cho đến tận bây giờ. Tôi thường không nhắc nhiều đến, bởi nếu nói hết ra, có thể bật khóc.

- Đức Phật dạy rằng không được dối trá. Nhưng để thích ứng và tồn tại trong đời sống đầy toan tính, người ta khó thực hiện được điều răn. Ngài có lời khuyên gì?

- Tôi nghĩ Đức Phật hiểu những gì con người đang trải qua. Khi bạn nói dối mà không gây hại cho ai, có lẽ Ngài sẽ mỉm cười chứ không tức giận.

Tuy vậy, con đường tu tập luôn hướng đến sự chân thành và trung thực, tránh dối trá. Vì thế, mỗi người cần nỗ lực thay đổi bản thân, hạn chế lặp lại điều này nhiều nhất có thể. Đó chính là con đường Đức Phật chỉ dạy.

Phong Linh

* Truyền thừa Drukpa giữ vị thế đặc biệt tại vùng Himalaya, là quốc giáo của Vương quốc Bhutan và ảnh hưởng sâu rộng tại vùng Ladakh, Ấn Độ. Được biết đến là truyền thừa của sự thực hành, Drukpa nhấn mạnh lối sống tỉnh thức và tinh thần dấn thân phụng sự cộng đồng.

Nguồn: Báo Vnexpress

🔔 Vào dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương — ngày 25, 26 và 27/04/2026 — tại thánh địa Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Tam Đảo, Phú Thọ) linh thiêng, một pháp hội chưa từng có sẽ diễn ra:
 
🌸 PHÁP HỘI ĐẠI BI QUAN ÂM 2026
🕊️Cầu nguyện Quốc thái Dân an • Hòa bình Thế giới
 
🙏 Do Đức Gyalwang Drukpa — bậc Thượng sư được tôn kính là Hoá Thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát — đích thân chủ trì.
 
🌐 Xem chương trình Pháp hội, giải đáp thắc mắc và đăng ký tham dự tại đây