Chữ “Hiếu” trong kinh tạng Hán văn (HT. Thích Minh Châu)
Thứ ba, 11/04/2017, 15:17
Chữ “Hiếu” trong kinh tạng Hán văn
Thích Minh Châu
Chúng ta có thể nói rằng, một người Á Đông, một người dân Việt Nam không thể không có hiếu với cha mẹ. Lòng biết ơn cha mẹ đã trở thành tính tự nhiên, ăn sâu vào tâm khảm của những người Đông phương; và khi lọt lòng ra chào đời, đứa con như đã thâm cảm được tất cả ân đức sâu dày của cha mẹ đã tác thành và đã thương yêu mình. Một người Việt Nam không ghi ơn và trả ơn cha mẹ không còn là một người Việt nữa, vì người ấy đã tự mình bới gốc rễ những gì tinh hoa nhất của tinh thần Việt Nam, tự mình phá hủy những gì cao đẹp nhất của tinh thần dân tộc.
Tinh hoa và tinh thần cao đẹp ấy của người dân Việt, không phải chính tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng của cả một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn xưa để lại, xứng hợp với bản tính, với phong tục của người Á Đông, của dân tộc Việt Nam; và nhờ vậy mà truyền thống từ đời này qua đời khác vẫn được mật thiết duy trì phát triển. Trong tất cả ảnh hưởng, lớn nhất là ảnh hưởng của đạo Phật, một tôn giáo, một nền giáo dục được truyền vào nước Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ I, và được đi sâu vào tầng lớp quần chúng và mãi được duy trì, qua các thời đại; cho đến ngày nay vẫn được đa số dân chúng tôn thờ quy ngưỡng. Chúng ta hãy tìm ở đây quan điểm đạo Phật đối với chữ Hiếu như thế nào, và những lời Phật dạy đã có ảnh hưởng gì đối với dân tộc Việt Nam.
Trước hết, đạo Phật nêu rõ công ơn của cha mẹ đối với con cái, công ơn sâu dày thâm trọng không thể nào tả xiết. Với lý tương quan tương duyên giữa mọi sự vật trong vũ trụ, đức Phật đã trình bày rõ ràng luật tương quan sinh tồn của con người; và người con được sống ra ở đời được thành người là toàn nhờ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha trải biết bao nhiêu năm tháng. Hãy kính thành dọc lên những câu Kinh thấm nhuần đạo Hiếu của người con đã nhớ đến nỗi đau khổ của người mẹ trong khi thai sản :
"Ở đời mẹ hiền chịu thai con
Mười tháng cưu mang luôn chịu khổ
Với năm dục lạc, tình không đắm
Tùy thời ăn uống cũng chung đồng
Ngày đêm canh cánh lòng thương xót
Đi đứng nằm ngồi chịu khổ đau
Đến thời mãn nguyệt sinh con dại
Đau tựa dao gươm cát ruột gan
Mê mẩn đông tây không phân biệt
Khắp thân đau đớn khó nhẫn kham..."
(Kinh Tâm Địa Quán)
Và những người dân quê trong những phút chạnh lòng nhớ tưởng đến mẹ cha, hát lên câu ca dao:
"Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con".
Có lẽ, người dân quê mộc mạc ấy đã được nghe một vị Tổ sư nào xa xưa dạy cho câu Kinh này trong Tâm Địa Quán :
“Cha lành ơn cao như non Thái
Mẹ hiền ân sâu như biển cả
Nếu ta ở đời trong một kiếp
Nói ân mẹ hiền không thể hết".
Có người tự cho mình là văn minh dám nói rằng: “Cha mẹ không có ân gì với con cả, chỉ vì muôn thỏa mãn một chút dục tình mà chẳng may sinh con, nay nuôi nấng, chịu cực khổ vì con là phải lắm”. Nhưng đã sinh ra làm con người, ai lại khỏi có dục tình. Vì còn phải sống trong dục giới nên mới lập gia đình, mới sinh con đẻ cái, mới tác thành con người, nào có gì là vượt khỏi địa giới con người đâu? Nhưng cha mẹ một khi sinh con, không có một cha mẹ nào lại không hy sinh cho con, và vui lòng chịu cực khổ vì con. Những cha mẹ chịu chết vì con thì nhiều, những người con chịu chết vì cha mẹ hiếm lắm. Như vậy làm sao dám tính toán so lường ân cao nghĩa trọng của mẹ cha.
Hãy đọc hai đoạn Kinh sau này để thành kính nghiêng mình trước hình ảnh hai bậc ân nhân cao: “Cha mẹ đối với con, ân đức cao nặng sâu dày: ân đức sản sinh từ tâm bú mớm, ân đức tắm giặt nuôi nấng trưởng thành, ân đức cung cấp các món cần dùng, ân đức chỉ dạy cách sống ở đời. Cha mẹ luôn luôn muốn con rời khổ được vui, không bao giờ xao nhãng nhớ con thương con như ảnh theo hình”.
(Kinh Bổn Sự)
“Ân cha hiền lớn như núi cả, ân mẹ hiền to như bể rộng, không gì hơn một niềm hiếu thuận, đem vật nhỏ mọn nuôi dưỡng mẹ lành, ở đời lấy gì làm sáng, lấy gì làm tối? Mẹ hiền còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng, mẹ hiền khuất bóng gọi là mặt trời đã lặng; mẹ hiền còn sống gọi là mặt trăng sáng tỏ, mẹ hiền mất rồi gọi là đêm tối u ám”.
(Kinh Tâm Địa Quán)
Tình tương thân tương ái giữa cha mẹ và con cái ấy sở dĩ mặn nồng và mãnh liệt, cũng nhờ đạo lý đồng thể Đại Bi của đạo Phật khai sáng một phần nào. Người mẹ trong khi ôm ấp đứa con, đã nhận chân được máu thịt của con chính là máu thịt của mình, thân xác của con chính là thân xác của mình. Vì vậy cho nên, người mẹ là người đã khổ với nỗi khổ của con, đã vui sướng với nỗi vui sướng của người con. Lòng hy sinh không bờ bến bắt nguồn từ tâm Đại Bi của các vị Bồ-tát đã nguyện trọn đời cứu độ cho chúng sinh, chung vui chịu khổ với chúng sinh, thể nhập vào thân xác của từng chúng sinh, để giáo hóa cứu độ cho chúng sinh. Và Đức Bồ-tát Quán Thế Âm, bà mẹ của những bà mẹ, đã được toàn thể chúng sinh tôn xưng là bậc Từ Mẫu ngàn đời của những người con xoay vần trong biển sinh tử đau khổ.
Người mẹ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp là những người mẹ bất diệt trên lịch sử hùng cường của nòi giống Việt Nam. Trong lúc nước nhà điêu linh, gia đình tan nát, những bà mẹ không những tự tay phải lo sự sống cho toàn thể gia đình, mà còn trút tất cả tình thương yêu của bà mẹ cho những người con phải sống xa gia đình, xa nhà, tản mát trên trận địa để chông giữ bờ cõi nước nhà. Một người mẹ được tin con bị đạn từ trần, đã ngã nhào bất tỉnh. Viên đạn trong khi kết liễu đời sống của người con và ghi tên người con trên bảng vàng danh dự của những người chiến sĩ đất Việt cũng đã kết liễu luôn đời sống của người mẹ và ghi tên người mẹ trên bảng vàng danh dự của những bà mẹ Việt Nam. Cứ mỗi tin một người con bỏ mình trong chiến tranh cũng làm trào động bể nước mắt đau khổ của bao bà mẹ. Nếu “nước mắt của chúng sinh tràn đầy bốn bể đại dương” như lời Phật dạy, thời ba phần nước mắt ấy phải để dành riêng cho tình thương của những bà mẹ hiền. Chúng tôi đã từng thấy những bà mẹ lên chùa khẩn cầu chư Phật gia hộ cho con mình được mọi điều an lành trong khi xa vắng. Nhìn cử chỉ chí thành chí kính, nghe tiếng khấn vái thiết tha não ruột, lòng người con Phật sao khỏi cảm động bồi hồi. Trong khi mình không được ở bên con để lo miếng cơm manh áo, để kết khuy nút cho con, để kéo mền đắp cho con trong cơn mưa lạnh, để che chở cho con khỏi bị các tai nạn nguy hiểm, những bà mẹ Việt Nam lên chùa khẩn cầu các đức Phật, bà mẹ của những bà mẹ, thành kính gửi tình thương của chính tự lòng mình, nhờ chư Phật chuyển đạt lòng thương ấy đến bên người con, âu yếm che chở cho con. Những lời khẩn cầu nồng nàn chí thiết của ngàn vạn bà mẹ Việt Nam đã làm tỏa rộng làn sóng tình thương, lan khắp hang cùng ngõ hẻm. Và những người con trong khi xa nhà, vắng bóng mẹ hiền, cũng cảm thấy lòng mình được sưởi ấm, lòng thương mẹ, thương nước dạt dào thêm. Chúng ta có thể nói: “Chỉ có những bà mẹ mới hiểu được tình thương của những bà mẹ. Chỉ có các vị Bồ-tát mới hiểu được tình thương của những bà mẹ Việt Nam”.
Một lần nữa, chúng ta hãy thành kinh nghe lời tán thán của đức Phật đối với những bà mẹ hiền:
"Quả đất ở đời gọi là nặng
Mẹ hiền ơn nặng quá hơn nhiều.
Tu-di người đời gọi là cao
Mẹ hiền ân cao quá hơn nhiều.
Gió lốc ở đời gọi là mau
Nhất niệm mẹ hiền mau hơn nhiều”.
(Kinh Tâm Địa Quán)
Nếu bà mẹ là cả một tình thương bộc lộ mãnh liệt, say đắm, thời người cha Việt Nam thương con lại kín đáo, mãnh liệt, và sáng suốt hơn. Một người bạn đã đến nói với chúng tôi: “Mãi khi hơn hai mươi tuổi tôi mới biết cha tôi thương tôi”. Quen sống với đời sống bên trong, và tự nhận thiên trách của mình khác hẳn với bà mẹ, người cha chú trọng nhiều đến sự giáo dục và tác thành cho con, muốn con trở thành những người con lý tưởng của mình, nối nghiệp cho cả giòng giống tổ tiên của mình. Lòng thương can đảm và bình tĩnh ấy khiến người con nông nổi khó chịu thật, nhưng chính là cả một sức mạnh khiến các người con sống đúng với tinh thần gia tộc, xứng đáng là một người con lý tưởng cho gia đình, cho nước nhà. Một người con đến xin phép cha cho ra trận, người cha nói tự nhiên: “Ừ, thôi con đi, gắng sao cho xứng dáng nước non nhà”. Một tin đưa từ mặt trận về: “Người con đã từ trần”, người cha buông thõng một câu: “Thôi, chết vinh còn hơn sống nhục. Con mình xử sự đúng với tinh thần của gia đình, của Tổ quốc là đủ”. Rồi mặc cho vợ con khóc lóc, người cha thản nhiên châm thuốc hút. Nói rằng người cha không biết đau vì con là không hiểu một chút nào tâm trạng của người cha, đã phải nuổt giận chịu đắng, để đủ sáng suốt, đủ can đảm mà nắm cương lãnh gia đình, để đào tạo những người con lý tưởng cho đất Việt. Người cha Việt Nam thản nhiên, lãnh đạm, nhưng cương quyết ấy đã sống đúng với tinh thần Á Đông, kín đáo, trọng lý trí, trọng lý tưởng và quên mình nghĩ đến gia tộc, nghĩ đến Tổ quốc, nghĩ đến nhân loại. Chính tình thương sáng suổt và kín đáo ấy đã được đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiện thân tượng trưng một cách thiết thực và toàn cõi Á Đông đều thành kính tôn xưng Ngài là đấng Từ Phụ của muôn loài.
Đối với tình thương cao cả và mãnh liệt của những bậc cha mẹ như vậy, đạo Phật luôn luôn nhắc nhủ các người con phải biết ơn và nhớ ơn. Kinh Đại Tập dạy rằng: “Gặp thời không có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật”. Kinh Tứ Thập Nhị Chương đã từng nói: “Thờ trời đất quỷ thần, không bằng có Hiếu với cha mẹ, vì cha mẹ là vị thần minh cao nhất trong các thần minh”. Với hai lời dạy trên, đức Phật tôn trọng cha mẹ đến bậc nào, và chúng ta thấy hiếu hạnh là một trong những hạnh cần thiết nhất của người Phật tử. Chính đức Phật luôn luôn nhắc nhở công ơn của cha mẹ Ngài: “Ta trải qua nhiều kiếp tinh tấn nay mới thành Phật, toàn là công ơn của cha mẹ Ta. Vậy nên, người muốn học đạo không thể không tinh tấn hiếu thảo với cha mẹ”. (Phân Biệt Kinh) - “Ta tự nhớ trong nhiều kiếp quá khứ, từ tâm hiếu thuận cúng dường cha mẹ; do công đức như vậy, nên lên các tầng trời thì làm vị Thiên đế, xuống trần gian thì làm vị Thánh vương” (Kinh Hiền Ngu). Công đức hiếu hạnh thật không thể nghĩ lường và muốn thành tựu tư cách của con người trên đường đời cũng như trên đường đạo không thể không nghĩ đến hạnh báo Hiếu.
“Điều thiện tối cao không gì hơn hiếu; điều ác, ác nhất không gì hơn bất hiếu”. (Kinh Nhẫn Nhục) - “Làm con đối với cha mẹ đem lễ mọn cúng dường thì được phước vô lượng, làm chút điều bất thiện đối với cha mẹ thì tội cũng vô lượng”. (Kinh Tập Bảo Tạng).
Công đức báo hiếu đã được đức Phật luôn luôn tán thán, và đạo làm con không thể nào không nghĩ đến sự hiếu dưỡng mẹ cha, nên cách báo hiếu thiết thực chân chính, được đức Phật chỉ dạy rất nhiêu và rất tinh tường. Biết ân cha mẹ và muôn báo đáp ân đức cũng chưa đủ. Hệ trọng nhất là cần phải biết cách báo ân chân chính, thiết thực có lợi ích cho cha mẹ và cho tất cả mọi người. Thông thường ở ngoài đời, phần nhiều lo phụng dưỡng cha mẹ khỏi mọi điầu thiếu thốn vê vật chất, luôn luôn tôn trọng kính lễ cha mẹ và xử sự thế nào cho cha mẹ khỏi phải phiền lòng, ở nơi đây, chúng ta để ra ngoài những người con chỉ biết lo tự thân sung sướng mà hắt hủi cha mẹ, ngược đãi cha mẹ, chúng ta cũng để ra ngoài những người con làm ô danh gia tộc bằng những hành vi đê tiện xấu xa, vì những người con này không còn được gọi là một người con nữa và không được gọi là một người dân Việt nữa - vì không một người Việt nào lại không có Hiếu - Chúng ta lấy cách báo ân như vậy cũng tạm gọi là chân chính; và ở đời, sống cam tâm trong cuộc đời giả tạm, đành chịu những nỗi đau khổ: Già, Đau, Sống, Chết đoanh vây, thì không gì quý bằng sự phụng dưỡng cha mẹ và sống cuộc đời thanh bạch đạo đức làm hiển danh cha mẹ. Và đức Phật cũng đã từng khuyên những người con hãy: “Phụng sự cha mẹ không thiếu thốn, phàm làm việc phải trình trước cha mẹ rõ...” (Kinh Trường A Hàm).
Nhưng mục đích đạo Phật là giải thoát con người khỏi những nỗi đau khổ căn bản của cuộc đời là Sinh, Lão, Bệnh, Tử; thời đối với những người con chí thành chí hiếu, đức Phật dạy rằng bổn phận của người con là phải làm thế nào cứu độ cha mẹ thoát khỏi những nỗi khổ cội rễ của con người. Và chỉ có vậy mới thiết thực báo ân cha mẹ.
Kinh Hiếu Tử nói rằng: “Cúng dường cha mẹ không gì bằng khuyên cha mẹ làm việc lành bỏ việc ác”. - Ở đời gọi là hiếu phải khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành. - “Nếu không thể cải hóa cha mẹ, phụng trì Tam Bảo; thời tuy có hiếu dưỡng cha mẹ, cũng gọi là bất hiếu”. Đức Phật lại dạy thêm: “Làm con phụng dưỡng cha mẹ, dùng trăm vị cam lồ dâng cúng cha mẹ, dùng thiên nhạc vi diệu làm vui lòng cha mẹ, dùng sắc phục tôn quý nhất chói sáng thân cha mẹ, hai vai tự cõng cha mẹ đi cùng khắp bốn biển, trọn đời đáp ân nuôi dưỡng cha mẹ, như vậy chưa gọi là Hiếu. Cha mẹ ngu si không kính thờ Tam Bảo, hung ngược dâm dật, ngụy biện trái đạo... người con phải hết sức cản ngăn, mới gọi là Hiếu”. (Kinh Hiếu Tử)... “Muốn báo ân cha mẹ, nên khuyên cha mẹ đối với Phật, Pháp, Tăng, đối với các pháp nhân quả v.v... cha mẹ chưa tin, khuyên cha mẹ tin; cha mẹ tin rồi, khiến lòng tin tăng trưởng, cha mẹ không giữ tịnh giới, khuyên giữ tịnh giới; cha mẹ có lòng xan tham, khuyên làm việc huệ thí; khéo an trú để tự điều phục. Như vậy, mới gọi là chân thực báo ân cha mẹ...” (Cảnh Sách).
Và đức Phật so sánh hai cách báo hiếu: “Lấy món cam lồ phụng dưỡng cha mẹ là hiếu thế gian. Khuyên cha mẹ tu tịnh giới là hiếu xuất thế gian. Hiếu thế gian thì cha mẹ chỉ hưởng phúc trong một đời, báo hiếu như vậy không lớn. Hiếu xuất thế gian giúp cha mẹ hưởng phúc vô tận, vì cha mẹ được sinh Tịnh độ phúc thọ trải vô lượng kiếp; như vậy mới là đại hiếu”. (Long Thư Tịnh Độ Văn).
Chúng ta thấy rằng, đức Phật trong khi dạy những người con khuyên cha mẹ phụng thờ Tam Bảo không phải muốn cho mọi người tôn thờ Ngài và đạo của Ngài như nhiều người lầm tưởng; chính đức Phật chỉ muốn khai sáng cho tất cả những bậc cha mẹ, noi theo con đường chân chính sáng suốt, thiết thực dắt dẫn mọi người thoát khỏi những nỗi đau khổ mà thôi. Khi những người con khuyên cha mẹ theo đạo Phật, quy y Tam Bảo là chỉ muốn cha mẹ được sống giác ngộ giải thoát. Sống giác ngộ là nhận sự thật hiển nhiên của






