Phần 3

26. Phẩm Thập Địa Thứ Hai Mươi Sáu

(Hán Bộ Từ Quyển 34 Ðến Quyển 39)

Phần 3

Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng: Thưa Phật tử! Ðại Bồ Tát đệ tứ Diệm Huệ Ðịa công hạnh đã khéo viên mãn muốn vào đệ ngũ Nan Thắng Ðịa, phải dùng mười thứ tâm bình đẳng thanh tịnh.

Ðây là mười tâm:

Tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp quá khứ, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp vị lai, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp hiện tại, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với giới, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với tâm, tâm bình đẳng thanh tịnh dứt trừ kiến nghi hối, tâm bình đẳng thanh tịnh nơi trí đạo phi đạo, tâm bình đẳng thanh tịnh tu hành tri kiến, tâm bình đẳng thanh tịnh nơi thượng thượng quán sát tất cả pháp Bồ đề phần, tâm bình đẳng thanh tịnh giáo hóa tất cả chúng sinh.

Ðại Bồ tát dùng mười tâm bình đẳng thanh tịnh này mà được vào bậc đệ ngũ nan thắng địa .

Chư Phật tử! Đại Bồ tát đã an trụ bưực đệ ngũ địa do khéo tu pháp bồ đề phần, do khéo tịnh thâm tâm, do cầu thêm đạo thượng thắng, do tuỳ thuận chân như, do nguyện lực chấp trì, do từ mẫn không bỏ tất cả chúng sinh, do chứa nhóm phước trí trợ đạo, do tinh tấn tu tập chẳng nghỉ, do xuất sinh phương tiện thiện xảo, do quán sát chiếu rõ các bậc trên, do được như lai hộ niệm, do sức niệm trí chấp trì, mà được tâm bất thối chuyển.

Chư Phật tử! đại bồ tát này biết như thiệt đây là khổ thánh đế, đây thật là khổ tập thánh đế, đây là khổ diệt thánh đế, đây là diệt đạo đế.

Bồ Tát này khéo biết tục đế, khéo biết tướng đế, khéo biết sai biệt đế, khéo biết thành lập đế, khéo biết sự đế, khéo biết sinh đế, khéo biết tận vô sinh đế,ᠫhéo biết nhập đạo trí đế khéo biết tất cả bồ tát địa thứ đệ thành tựu đế nhẫn đến khéo biết Như Lai trí thành tựu đế.

Bồ Tát này vì tuỳ lòng sở thích của chúng sinh làm cho họ hoan hỷ nên biết tục đế. Vì thông đạt nhất thiết tướng nên biết đệ nhất nghĩa đế. Vì tỏ thấu tự tướng cộng tướng của các pháp nên biết tướng đế. Vì rõ phần vị sai biệt của các pháp nên biết sai biệt đế. Vì khéo phân biệt uẩn xứ giới nên thành lập đế . Vì tỏ ngộ các loài sinh tương tục nên biết sinh đế. Vì tất cả nhiệt não rốt ráo diệt nên biết tận vô sinh trí đế. Vì xuất sinh vô nhị nên biết nhập đạo trí đế. Vì chính giác ngộ tất cả hành tướng nên biết tất cả bồ tát địa thứ đệ thành tựu đế nhẫn đến biết Như Lai trí thành tựu đế.

Ðây là dùng sức tín giải trí mà biết chẳng phải dùng sức cứu cánh trí .

Chư Phật tử! Ðại bồ tát này được các đế trí thời biết như thiệt tất cả pháp hửu vi hư vọng dối trá gạt phỉnh kẻ ngu, vì thế nên đối với tất cả chúng sinh càng tăng thêm quang minh đại bi và đại từ.

Chư Phật tử! đại bồ tát được trí lực như vậy chẳng bỏ một chúng sinh, thường cầu Phật trí, quán sát như thiệt tất cả hạnh hửu vi về tiến tế và hậu tế: rõ biết từ tiền tế vô minh, ái, hửu mà sinh, do đây sinh tử lưu chuyển. Nơi các nhà ngũ uẩn không thể thoát ra, thêm lớn sự khổ, không ngã, không thọ giả, không gì kẻ dưỡng dục, không gì là kẻ luôn thọ lấy than loài sau, rời ngã và ngã sở.

Như tiền tế, hậu tế cũng như vậy, đều là vô sở hửu, hư vọng tham trước, dứt hết thời được giải thoát. Hoặc có hoặc không điều biết như thiệt.

Chư Phật tử! Ðại bồ tát này lại nghĩ rằng: hàng phàm phu này ngu si vô trí thật là đáng thương. Có vô số thân đã mất, nay mất, sẽ mất. Diệt mất như vậy mà chẳng thể đối với thân có quan niệm nhàm lì, lại thêm lớn cơ quan khổ sở, theo dòng sinh tử chẳng trở lại được. Nơi những nhà ngũ uẩn chẳng cầu thoát khỏi, chẳng biết lo sợ bốn rắn độc lớn, không nhổ được những mũi tên kiêu mạn kiến chấp, không dập tắt được ngọn lưởi tham, sân, si, không pháp tan được màn vô minh, không làm khô cạn được biển lớn ái dục. Họ chẳng biết cầu đấng đại thánh đạo sư đủ mười trí lực, mà vào trong rừng rậm ma ý. Ở trong biển sinh tử họ bị lượng sóng giác quán cuốn trôi nhận chìm.

Chư Phật tử! đại bồ tát này lại nghĩ rằng: những chúng sinh này thọ khổ như vậy, có cùng khốn đốn, không chỗ nương, không ai cứu, không đất, không nhà, không mắt, không người dẫn dắt  Họ bị vô minh che loà, màn tối chụp trùm.

Nay tôi vì họ mà tu hành những pháp trợ đạo phước trí. Ðơn độc pháp tâm chẳng cầu bè bạn. Ðem công đức này làm cho chúng sinh được rốt ráo thanh tịnh, nhẫn đến chứng được mười trí kực vô ngại của Như Lai.

Chư Phật tử! Ðại bồ tát này dùng trí huệ quán sát thiện căn đã tu như vậy, đều vì cứu hộ tất cả chúng sinh, lợi ích tất cả chúng sinh, thương xót tất cả chúng sinh, thành tựu tất cả chúng sinh, thương xót tất cả chúng sinh, thành tựu tất cả chúng sinh, giải thoát tất cả chúng sinh nhiếp thọ tất cả chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh lìa những khổ não, khiến tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh, khiến tất cả chúng sinh đều được điều phục, khiến tất cả chúng sinh chứng nhập Niết Bàn .

Chư Phật tử! Ðại bồ tát an trụ bậc đệ ngũ nan thắng địa, gọi là "niệm" là vì chẳng quên chính pháp, gọi là "trí "là vì hay khéo nói quyết rõ, gọi là "hửu trí" là vì biết ý thú kinh thứ đệ liên hiệp, gọi là "tàm quý" là vì hộ mình hộ người, gọi la "nên cố" là vì chẳng bỏ giới hạnh, gọi là "giác" là vì hay quán sát thị xứ phi xứ, gọi là "tuỳ trí" là vì chẳng tuỳ nơi khác, gọi là "tuỳ huệ" là vì khéo biết câu sai biệt đúng nghĩa hay chẳng đúng nghĩa, gọi là "thần thông", là vì khéo tu thiền định, gọi là "phương tiện thiện xảo" là vì có thể thật hành theo thế gian, gọi là "vô yểm túc " là vì khéo chứa phước đức, gọi là "bất hưu tức "là vì thường cầu trí huệ, gọi là "bất bì quyện "là vì chứa đại từ bi, gọi là "siêng tu vì người "là vì muốn cho tất cả chúng sinh chứng nhập Niết Bàn, gọi là "cần cầu chẳng giải đãi" là vì cầu trí lực, vô uý, bất cộng pháp của Như Lai, gọi là "mống ý hay làm" là vì thành tựu trang nghiêm Phật độ, gọi là "siêng tu công hạnh lành" là vì hay đầy đủ tướng hảo, gọi là "thường siêng tu tập" là vì cầu trang nghiêm thân, ngữ, ý Như Lai, gọi là "rất tôn trọng cung kính phá" là vì đúng như lời dạy của tất cả Đại Bồ tát mà thật hành, gọi là "tâm không chướng ngại" là vì dùng đại phương tiện thường du hành thế gian, gọi là "ngày đêm xa lìa những tâm khác" là vì thích giáo hoá chúng sinh.

Chư Phật tử! Lúc đại Bồ Tát siêng tu hành như vậy, dùng Bố thí để giáo hoá chúng sinh, dùng ái ngữ lợi hành và đồng sự để giáo hoá chúng sinh. Thị hiện sắc thân để giáo hoá chúng sinh, diễn thuyết các pháp để giáo hoá chúng sinh. Khai thị Bồ Tát hạnh để giáo hoá chúng sinh. Hiển thị lỗi lầm khổ sở của sinh tử để giáo hoá chúng sinh. Khen ngợi trí huệ lợi ích của Như Lai để giáo hoá chúng sinh. Hiện sức đại thần thông để giáo hoá chúng sinh. Hiện sức đại thần thông để giáo hoá chúng sinh. Dùng các môn phương tiện để giáo hoá chúng sinh. Dùng các môn phương tiện để giáo hoá chúng sinh.

Chư Phật tử! Đại Bồ Tát này có thể siêng năng phương tiện như vậy để giáo hoá chúng sinh, lòng luôn tương tục thẳng đến Phật trí, Thiện căn đã tu không hề thối chuyển, Thường siêng tu học những pháp hành thù thắng.

Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát này vì lợi ích chúng sinh nên gồm học tập tất cả kỹ nghệ thế gian, thông đạt cả những môn văn tự , toán số , đồ thơ , ấn loát , các sách luận về địa , thuỷ , hoả phong. Lại giỏi phương thuốc trị lành các bịnh: điên cuồng , càn tiêu , quỷ mị , cổ độc . lại giỏi những thứ văn bút , tấn vịnh , ca vũ, kỷ nhạc,diễu cười, đàm luận.Biết rành cách thức kiến thiết thành trì,thôn ấp,nhà cửa,vườn tược, suối ao, cây cỏ, hoa trái, dược thảo.Biết những nơi có mõ vàng, bạc, châu, ngọc.Giỏi xem biết rành mặt trời, mặt trăng, tinh tú, chim hót, địa chấn, chiêm bao tốt xấu, thân tướng sang hèn.Những môn trì giới, nhập thiền định,vô lượng thần thông,tứ vô sắc và tất cả việc thế gian khác,nếu là những sự không làm tổn chúng sinh mà đem lại lợi ích thời đều khai thị cho họ,lần đưa họ đến Phật pháp vô thượng .

Chư Phật tử! Đại Bồ Tát trụ bậc Nan thắng này , do nguyện lực được thấy nhiều Ðức Phật , nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha Đức Phật , nhẩn đến thấy trăm ngàn ức na do tha Đức Phật , đều kính trọng cúng dường,cũng cúng dường tất cả chúng tăng . Ðem thiện căn này hồi hướng vô thượng Bồ đề . nơi Chư Phật cung kính nghe pháp , nghe xong thọ trì tuỳ sức tu hành.Sau đó xuất gia lại nghe Phật pháp được đà la ni làm qua trăm kiếp nhẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp,những thiện căn đã có càng thêm sáng sạch .

Chư Phật tử! ví như chân kim dùng ngọc xa cừ để dồi bóng thời càng thêm sáng sạch .

Cũng vậy, Bồ Tát này dùng Phương tiện huệ tư duy quán sát, những thiện căn đã có càng thêm sáng sạch .

Chư Phật tử! Bồ Tát trụ bậc nan thắng địa dùng tiện trí thành tựu công đức,những thiện căn của bậc dưới không thể sánh kịp .

Chư Phật tử! như mặt trời mặt trăng cung điện quang minh do sức gió chấp trì nên không bị chướng ngăn phá hoại, cũng chẳng phải sức gió khác làm khuynh động được .

Cũng vậy , những thiện căn của bậc Bồ Tát này , do phương tiện trí theo dõi quán sát nên không bị ngăn hoại, cũngchẳng phải thiện căn của tất cả độc giác, thanh văn và thế gian làm khuynh động được .

Trong mười môn ba la mật, Bồ Tát này thiên nhiều về thiền ba la mật, với các môn khác thời tuỳ phần tuỳ sức .

Chư Phật tử! đây là lược nói về đệ ngũ nan thắng địa Bồ Tát .

Bồ Tát ở bậc này thường làm đâu suất thiên vương .Ðối với chúng sinh đều được tự tại.Dẹp trừ tất cả ngoại đạo tà kiến, có thể làm cho chúng sinh trụ trong thiệt đế .

Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, niệm pháp,niệm tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm đầy đủ nhất thiết chủng trí .

Bồ Tát này lại nghĩ rằng: tôi sẽ ở trong chúng sinh làm thượng thủ, làm thắng, làm thù thắng, làm diệu, làm vi diệu , làm vô thượng nhẫn đến làm bậc y chỉ của nhất thiết chủng trí .

Bồ Tát này nếu phát cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được ngàn ức tam muội,thấy ngàn ức Ðức Phật , biết thần lực của ngàn ức Ðức Phật,có thể chấn động ngàn ức thế giới,nhẫn đến thị hiện ngàn ức thân Phật , mỗi mỗi thân hiện ngàn ức Bồ Tát làm quyến thuộc .

Nếu dùng nguyện lực thù thắng tự tại để thị hiện thời hơn vô số trên đây , nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm được .

Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Bồ Tát tứ địa đã thanh tịnh

Tư duy tam thế Phật bình đẳng

Giới,tâm,trừ nghi,đạo phi đạo ,

Quán sát như vậy vào ngũ địa .

Niệm xứ làm cung ,căn làm tên .

Chính cần làm ngựa , xe: thần túc ,

Giáp sắt ngũ lực phá oán địch ,

Mạnh mẽ bất thối vào ngũ địa ,

Tàm quý y phục, hoa giác phần

Tịnh giới y phục, hoa giác phần

Tịnh giới làm hương, thiền hương thoa

Trí huệ phương tiện diệu trang nghiêm

Vào rừng tổng trì, vườn tam muội .

Như ý làm chân,cổ chính niệm ,

Từ bi làm mắt, răng trí huệ ,

Ðấng sư tử vô ngã rống vang động .

Phá giặc phiền não vào ngũ địa

Bồ Tát trụ bậc đệ ngũ này

Chuyển tu thắng thượng đạo thanh tịnh

Chí cầu Phật pháp chẳng bất thối chuyển

Gẩm nhớ từ bi không nhàm mõi .

Chứa nhóm phước trí thắng công đức

Tinh tấn phương tiện quán bậc trên

Phật lực gia hộ đủ niệm huệ

Rõ biết tứ đế như thiệt .

Khéo biết thế đế , thắng nghĩa đế

Tướng đế , sai biệt thành lập đế ,

Sự đế, sinh , tận và đạo đế.

Nhẫn đến Như Lai vô ngại đế.

Quán đế như vậy đầu vi diệu

Chưa được vô ngại thắng giải thoát .

Do đây hay sinh thắng công đức .

Cho nên vượt hơn thế trí huệ .

Ðã quán đế rồi biết hửu vi .

Thể tính hư dối không bền chắc

Ðược phần từ quang của chư Phật

vì lợi chúng sinh cầu Phật trí .

Quán pháp hửu vi thuở trước sau

Vô minh tối tăm , ái ràng buộc

Lưu chuyển xoắn trong quả khổ

Không ngã, không nhơn, không thọ mạng .

Ái thủ làm nhơn thọ khổ sau

Muốn tìm ngằn mé không thể được ,

Mê vọng trôi chìm không thuở về

Bọn này đáng thương tôi phải độ .

Nhà: uẩn, rắn: cõi, mũi tên: chấp

Tâm hoả hừng hực, si tối nặng

Sông ái cuốn trôi chẳng rảnh xem

Biển khổ dật dờ không người dắt .

Rõ biết như vậy siêng tinh tấn

Chổ làm đều vì độ chúng sinh

Gọi là người có niệm có huệ

Nhẫn đến có giác giải phương tiện .

Tu tập phước trí không nhàm đủ

Cung kính đa văn chẳng mõi nhàm

Cõi nước tướng hảo đều trang nghiêm

Như vậy đều ví chúng sinh cả

Vì muốn giáo hoá các thế gian

Giỏi biết thơ số cách ấn loát

Và cũng biết rành các phương thuốc

Chửa trị bịnh tật đều được lành .

Văn từ , ca vũ đều khéo giói

Nhà cửa,vườn ao đều an ổn .

Mõ vàng , bạc ngọc đều pháp hiện

Vô lượng chúng sinh nhờ lợi ích .

Nhựt, nguyệt, tinh tú và địa chấn

Nhẫn đến thân tướng cũng quán sát

Tứ thiền,vô sắc và thần thông

Vì lợi thế gian đều hiển thị .

Trí giả trụ bậc nan thắng này

Cúng vô lượng Phật và nghe pháp

Như dùng diệu bửu trau chân kim

Thiện căn đã có càng sáng sạch .

Ví như tinh tú ở hư không

Phong lực chấp trì không tổn động .

Cũng như hoa sen không dính nước

Bồ Tát độ đời cũng như vậy .

Bậc này thường làm đâu suất vương

Hay dẹp ngoại đạo các Phật trí

Nguyện được thập lực độ tận chúng sinh

Ngài tu hành đại tinh tấn

Liền được cúng dường ngàn ức Phật

Ðắc định, động cõi cũng ngàn ức

Nếu là nguyện lực lại hơn đây .

Bồ Tát đệ ngũ nan thắng địa

Chân đạo tối thượng trong nhơn gian

Tôi cùng các môn phương tiện lực

Vì Chư Phật đã tuyên thuyết .

Bồ Tát đã nghe những thắng hạnh

Lòng rất hoan hỷ rải hoa thơm

Phóng tịnh quang minh rải bửu châu

Cúng duờng Như Lai khen nói giỏi .

Trăm ngàn thiên chúng đều vui mừng

Ðồng ở hư không rải các báu:

Tràng hoa, chuổi ngọc và tràng phan

Lọng báu , hương thoa đều cúng Phật .

Tự tại thiên vương cùng quyến thuộc

Lòng sinh hoan hỷ trụ hư không

Rải báu thành mây dùng cúng dường

Khen rằng Phật tử khéo tuyên thuyết!

Vô lượng thiên nữ ở hư không

Ðồng tấu nhạc âm ca ngợi Phật

Trong tiếng ca nhạc đều nói rằng

Lời Phật hay trừ bịnh phiền não ,

Pháp tính bổn tịch không hình tướng

Dường như hư không chẳng phân biệt

Ngoài những chấp trước , tuyệt nói phô

Chân thiệt bình đẳng thường thanh tịnh .

Nếu muốn thông đạt các pháp tính

Nơi có , nơi không lòng chẳng động

Vì muốn cứu đời siêng tu hành

Từ miệng Phật sinh chân Phật tử .

Bố thí vẫn không thấy có tướng ,

Vốn đứt điều ác gìn giử tịnh giới ,

Hiểu pháp không hại , thường nhẫn nhịn ,

Biết pháp tính ly , chuyên tinh tấn ,

Ðã hết phiền não vào thiền định ,

Khéo đạt tính không,phan biệt pháp

Ðầy đủ trí lực ,hay cứu rộng

Diệt trừ điều ác xưng đại sĩ .

Diệu âm như vậy ngàn vạn thứ

Khen rồi đứng yên chiêm ngưỡng Phật .

Giải thoát nguyệt Bồ Tát rằng: thưa Phật tử! đại Bồ Tát đã đủ đệ ngũ địa muốn vào đệ lục hiện tiền địa phải quán sát mười pháp bình đẳng.

Ðây là mười pháp:

Tất cả pháp vì vô tướng nên bình đẳng vì vô thế nên bình đẳng , vì vô sinh nên bình đẳng,vì vô diệt nên bình đẳng , vì bổn lai thanh tịnh nên bình đẳng , vì không hý luận nên bình đẳng,vì không thủ xã nên bình đẳng,vì tịch tịnh nên bình đẳng.Vì như huyễn,như mộng,như bóng, như vang, như trăng trong nước, như tượng trong gương , như dương diệm, như biến hoá nên bình đẳng , vì có không bất nhị nên bình đẳng .

Bồ Tát quán sát các pháp như vậy , tự tính thanh tịnh , tuỳ thuận không trái được vào đệ lục hiện tiền địa , được minh lợi tuỳ thuận nhẫn, chưa được vô sinh pháp nhẫn.

Chư Phật tử! đại Bồ Tát này quán như vậy rồi , lại lấy đại làm đầu , đại bi tăng thượng , đại bi đầy đủ , quán thế gian sinh diệt mà nghĩ rằng:

Thế gian thọ sinh đều do chấp ngã.Nếu lìa chấp ngã thời không chỗ sinh .

Lại nghĩ rằng: phàm phu không trí huệ chấp lấy ngã thường tìm có không , suy xét bất chính, khởi vọng hạnh, làm đạo tà, nghiệp tội, nghiệp bất động tích tập thêm lớn.Ở trong các nghiệp hành trồng hột giống tâm hửu lậu hữu thú, lại khởi hậu hữu: sinh và lão tử.Chính là: nghiệp làm đồng ruộng, thức làm hột giống, vô minh che rợp, nước ái thấm nhuần, ngã mạn tưới bón, lưới chấp kiến thêm lớn, mọc mầm danh sắc, danh sắc thêm lớn nẩy chồi ngũ căn , các căn đối nhau sinh ra xúc, xúc đối sinh có thọ, sau khi thọ rồi mong cầu sinh có ái , ái tăng thêm sinh ra thủ, thêm lớn thủ sinh ra hữu, đã sinh hữu thời ở trong các loài khởi thân ngũ uẩn gọi là sinh,suy biển gọi là lão,chết mất gọi là tử. Lúc lão tử sinh ra những nhiệt não .Do nhiệt não nên đủ thứ khổ ưu sầu, buồn than tập họp lại .Ðây là do duyên mà tập họp chớ không có cái tập họp.Lần lượt mà diệt chớ không có cái diệt .

Bồ Tát tuỳ thuận quán sát tương duyên khởi như vậy .

Chư Phật tử! Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng: vì chẳng tỏ ngộ nơi đệ nhất nghĩa đế nên gọi là vô minh . nghiệp quả là hành .sơ tâm của hành y chỉ là thức. Bốn uẩn cùng thức sinh chung là danh sắc. Danh sắc tăng trưởng là lục nhập .Căn , cảnh, thức ba thứ hòa hiệp là xúc. Xúc sinh chung mà có thọ. Nhiễn trước nơi thọ là ái .Thêm lớn ái thành ra thủ. Nghiệp hữu lậu do thủ khởi lên là hữu. Từ nghiệp khởi ra uẩn là sinh. Uẩn chín mùi là lão. Uẩn hư hoại là tử .Lúc mê tham luyến trong lòng phiền muộn là sầu. Rơi lệ than thở là thán .Tại năm căn là khổ .Tại ý tưởng là ưu . Ưu khổ càng nhiều là não .

Như thế thì chỉ có cây khổ làm tăng trưởng , trọn không ngã không ngã sở, không tác giả, không thọ giả .

Lại nghĩ rằng: nếu có tác giả thời có tác sự .Nếu không tác giả thời không tác sự .Trong đệ nhất nghĩa đế hoàn toàn bất khả đắc .

Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát này lại nghĩ rằng: toàn cả tam giới chỉ có nhất tâm .Ơ 73;ây Ðức Như Lai phân biệt diễn nói mười hai chi, đều y cứ nhất tâm mà an lập như vậy .

Tại sao vậy ? Vì theo sự tham dục cùng tâm sinh chung .Tâm là thức, sự là hành .Mê lầm nơi hành là vô minh .Cùng vô minh và tâm sinh chung là danh sắc .Tăng trưởng danh sắc là lục nhập .Lục nhập ba phần là xúc .Xúc sinh chung là thọ .Thọ không nhàm đủ là ái .Ái nhiếp chẳng bỏ là thủ .Các hữu chi sinh là hữu .Của hữu phát khởi gọi là sinh .Sinh thục là lão .Lão hoại là tử

Chư Phật tử! trong đây vô minh có hai thứ nghiệp: một là làm cho chúng sinh mê nơi cảnh sở duyên, hai là làm nhơn sinh khởi cho hành .

Hành cũng có hai thứ nghiệp: một là có thể sinh ra báo vị lai, hai là làm nhơn sinh khởi cho thức .

Thức cũng có hai thứ nghiệp: một là khiến các hữu nối tiếp,hai là làm nhơn sinh khởi cho danh sắc .

Danh sắc cũng có hai thứ nghiệp: một là trợ thành lẫn nhau,hai là làm nhơn sinh khởi cho lục nhập .Lục nhập cũng có hai thứ nghiệp: một là đều riêng lấy cảnh giới của tự mình, hai là làm nhơn sinh khởi cho xúc .

Xúc cũng có hai thứ nghiệp: một là hay xúc cảnh sơ ên, hai là làm nhơn sinh khởi cho thọ .

Thọ cũng có hai nghiệp: một là hay lãnh thọ các sự yêu ghét , hai là làm nhơn sinh khởi cho ái .

Ái cũng có hai nghiệp: một là nhiễm trước sự khả ái, hai là làm nhơn sinh khởi cho thủ .

Thủ cũng có hai nghiệp: một là làm cho các phiền não nối tiếp, hai là làm nhơn sinh khởi cho hữu .

Hữu cũng có hai nghiệp: một là hay làm cho sinh trong các loài, hai là làm nhơn sinh khởi cho sinh .

Sinh cũng có hai nghiệp: một là hay khởi các uẩn, hai là làm nhơn sinh khởi cho lão .

Lão cũng có hai nghiệp: một là làm cho các căn biến đổi, hai là làm nhơn sinh khởi cho tử .

Tử cũng có hai thứ nghiệp: một là hay làm hoại cách hành, hai là vì chẳng giác tri nên nối tiếp chẳng dứt .

Chư Phật tử! trong đây vô minh,duyên hành, nhẫn đến sinh duyên lão tử .Do vô minh làm duyên, nhẫn đến sinh làm duyên làm cho hành nhẫn đến lão tử chẳng dứt , vì nó trợ thành vậy .

Vô minh diệt thời hành diệt, nhẫn đến sinh diệt thời lão tử diệt .Do vô minh chẳng làm duên nhẫn đến sinh chẳng làm duyên, khiến cho hành nhẫn đến lão tử dứt diệt, vì nó chẳng trợ thành vậy .

Chư Phật tử! trong đây vô minh ái và thủ chẳng dứt là phiền não đạo . Hành và hữu chẳng dứt là nghiệp đạo .Những phần khác chẳng dứt là khổ đạo.

Tiền tế hậu tế phân biệt dứt diệt thời ba đạo dứt diệt .

Ba đạo như vậy lìa ngã, lìa ngã sở, chỉ có sinh diệt dường như bó lau .

Lại vô minh duyên hành là quán quá khứ .Thức nhẫn đến thọ là quán hiện tại . Ái nhẫn đến hữu là quán vị lai .Từ đây về sau xoay vần tiếp nối .

Vô minh diệt, hành diệt, đó là quán chờ dứt diệt .

Lại mười hai hữu chi gọi là tam khổ .Trong đây vô minh , hành đến lục nhập là hành khổ .Xúc , thọ là khổ khổ . Những chi khác là hoại khổ .

Vô minh diệt, hành diệt đó là ba khổ dứt .

Lại vô minh duyên hành là vô minh làm nhơn hay sinh các hành .Các chi khác cũng vậy .

Vô minh diệt hành diệt đó là do không vô minh thời hành cũng không .Các chi khác cũng không . Các chi khác cũng vậy .

Lại vô minh duyên hành đó là sinh phược .vô minh diệt hành diệt đó là diệt hệ phược .Các chi khác cũng vậy .

Lại vô minh duyên hành đó là tùy thuận vô sở hữu quán .vô minh diệt hành diệt đó là tùy thuận tận diệt quán .Các chi khác cũng vậy .

Chư Phật tử! đại Bồ Tát quán nghịch thuận các duyên khởi có mười cách như vậy là vì hữu chi nối tiếp , vì nhiếp tại nhất tâm, vì tự nghiệp sai biệt , vì tam đạo chẳng dứt , vì quán quá khứ, hiện tại, vị lai , vì ba khổ tụ tập,vì nhơn duyên sinh diệt, vì sinh diệt hệ phược , vì vô sở hữu quán và tận quán .

Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát dùng mười tướng như vậy quán các duyên khởi biết là vô ngã, vô nhơn, vô thọ mạng, tự tính không, chẳng có tác giả, không có thọ giả, liền được môn không giải thoát hiện tiền .

Quán các hữu chi đều là tự tính diệt, rốt ráo giải thoát, không có chút pháp tướng sinh, liền được môn vô tướng giải thoát hiện tiền .

Nhập không , vô tướng rồi, không nguyện cầu, chỉ trừ đại bi làm đầu giáo hoá chúng sinh , liền được môn vô nguyện giải thoát hiện tiền .

Bồ Tát tu ba môn giải thoát như vậy , lìa tưởng ngã, lìa tưởng tác giả, tưởng thọ giả, lìa tưởng hữu vô

Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát này đại bi càng tăng thêm siêng năng tu tập, vì chưa viên mãn pháp Bồ đề phần nên làm cho viên mãn .

Bồ Tát nghĩ rằng: tất cả hữu vi, có hoà hiệp thời chuyển, không hoà hiệp thời không chuyển. Duyên nhóm thời chuyển, duyên không nhóm thời chẳng chuyển. Tôi biết pháp hữu vi có nhiều lỗi hoạ như vậy , nay phải dứt nhơn duyên hoà hiệp này . Nhưng vì phải thành tựu chúng sinh nên cũng chẳng dứt các công hạnh .

Chư Phật tử! Bồ Tát như vậy quán sát các pháp hữu vi có nhiều lỗi ác, không có tự tính, không sinh không diệt mà hằng khởi đại bi chẳng bỏ chúng sinh , liền được bát nhã ba la mật hiện tiền, gọi là vô chướng ngại trí quang minh .

Thành tựu trí quang minh như vậy rồi, dầu tu tập Bồ đề phần nhơn duyên mà chẳng trụ trong hữu vi, dầu quán pháp hữu vi tự tính tịch diệt, cũng chẳng trụ trong tịch diệt. Vì pháp Bồ đề phần chưa viên mãn .

Chư Phật tử! Bồ Tát trụ bậc hiện tiền địa này, được nhập không tam muội, tự tính không tam muội, đệ nhất không tam muội , hiệp không tam muội, khởi không tam muội , như thiệt bất phân biệt không tam muội , bất xã ly không tam muội .

Bồ Tát này được mười môn không tam muội như vậy làm đầu. Kế đó trăm ngàn không tam muội đều hiện tiền cả .

Mười môn vô tướng không tam muội, mười môn vô nguyện tam muội như vậy làm đầu , kế đó trăm ngàn môn vô tướng, vô nguyện đều hiện tiền cả .

Chư Phật tử! Bồ Tát trụ bậc hiện tiền địa này lại tu tập đầy đủ tâm bất khả hoại, tâm quyết định , tâm thuần thiện, tâm thậm thâm, tâm , tâm bất thối chuyển, tâm bất hưu tức, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm bất hưu tức, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm cầu trí, tâm phương tiện huệ tương ưng, tất cả đều viên mãn .

Chư Phật tử! Bồ Tát dùng mười tâm này thuận Phật Bồ đề , chẳng sợ dị luận, vào các trí địa, lìa đạo nhị thừa, thẳng đến Phật trí, các ma phiền não không trở lại hư hoại được, trụ nơi Bồ Tát trí huệ quang minh. Trong pháp không, vô tướng, vô nguyện đều khéo tu tập, trí huệ phương tiện luôn chung tương ưng, pháp Bồ đề phần thường thật hành chẳng bỏ .

Chư Phật tử! Bồ Tát trụ trong bậc hiện tiền địa này được tăng thượng hạnh bát nhã ba la mật , được đệ tam minh lợi thuận nhẫn, vì tuỳ thuận không trái với tướng như thiệt của các pháp .

Chư Phật tử! Bồ Tát đã an trụ nơi bậc hiện tiền địa này, do nguyện lực nên được thấy nhiều Ðức Phật , nhẫn đén thấy trăm ngàn ức na do tha Ðức Phật đều dùng tâm quãng đại, thâm tâm để cúng dường cung kính tôn trọng tán thán, cũng cúng dường tất cả chúng tăng. Ðem thiện căn này hồi hướng vô thượng Bồ đề .

Nơi Chư Phật ,Bồ Tát này cung kính nghe pháp, nghe xong thọ trì, được như thiệt tam muội trí huệ quang minh, tuỳ thuận tu hành ghi nhớ chẳng bỏ . Lại được pháp tạng thậm thâm của Chư Phật . Trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp , những thiện căn đã có lại càng sáng sạch .

Ví như chân kim,. Dùng báu tỳ lưu ly luôn dồi

📣 Lịch tu tập định kỳ hàng tháng tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên

Quý đạo hữu hoan hỷ lưu lại lịch, lên kế hoạch tham dự và chia sẻ tới người thân, bạn bè cùng gieo duyên lành.

🔹 Mùng 8 (Lịch Kim Cương Thừa)
Đại đàn Cầu An – Pháp hội Dược Sư

🔹 Mùng 10 (Lịch Kim Cương Thừa)
• 8h00 – 16h00: Khóa tu Phật Trường Thọ
• 17h00: Khóa tu Hộ Pháp

🔹 Ngày 15 (Âm lịch)
• Khóa lễ Cầu siêu
• Khóa tu Quan Âm – Tam Bộ Tài Thiên

🔹 Ngày 25 (Lịch Kim Cương Thừa)
Pháp tu Thí thân Ba La Mật – Sengey Tsewa

🔹 Ngày 29 (Lịch Kim Cương Thừa)
Khóa tu Hộ Pháp

👉 Xem lịch chi tiết và đăng ký tham dự tại đây