1. Bổn Phận Của Phật Tử Tại Gia
Thứ tư, 08/06/2016, 16:35
Bổn Phận Của Phật Tử Tại Gia
A. Mở Đề
1. Người đời ai cũng có bổn phận
Người ta sinh ra trên hoàn vũ này, ai cũng có bổn phận. Nói một cách tổng quát, thì đã có cái danh, tất phải có cái phận. Con kiến, con ong, có cái phận của kiến, của ong; mặt trăng, mặt trời có cái phận của mặt trăng, mặt trời. Dù nhỏ dù lớn, mọi vật mọi người đều có cái phận riêng của mình. Những điều cần phải làm, đối với cái phận ấy, chính là bổn phận.
Danh càng lớn, thì phận càng nhiều; phận càng nhiều thì bổn phận càng nặng. Hễ có thêm một cái danh là có thêm bổn phận. Càng nhiều danh lại càng nhiều bổn phận...Người có bổn phận của người; nhưng khi người + làm quan, tất nhiên ngoài bổn phận người, có thêm bổn phận làm quan, (bổn phận người + bổn phận quan). Và nếu người làm quan ấy lại làm quan đầu tỉnh, (người + quan + đầu đỉnh) thì tất nhiên ngoài hai bổn phận trên, còn thêm bổn phận cai trị cả tỉnh nữa (bổn phận người + bổn phận quan + bổn phận cai trị cả tỉnh). Nếu muốn có nhiều danh, mà lại muốn trút bớt bổn phận, thì là gian lận, lừa bịp. Và khi ấy, cái danh ấy chỉ là hư danh. Và khi danh đã hư, thì mọi viẹc đều hư cả. Cho nên người xưa đức Khổng Tử nêu lên thuyết "Chính danh" để chỉnh đốn xã hội là vì thế.
2. Người Phật tử tại gia lại có nhiều bổn phận hơn ai cả
Dựa vào lý luận trên mà suy diễn, chúng ta thấy bổn phận của người Phật tử tại gia thật là nặng nề. Cái danh của chúng ta gồm có đến năm chữ: Người + Phật tử + tại gia. Như thế, tất nhiên chúng ta có những bổn phận của người + bổn phận của Phật tử + bổn phận tại gia. Đó là chưa kể người Phật tử tại gia ấy còn có những cái danh khác như: Công chức, Giáo sư, Giám đốc v.v...Nhưng để cho vấn đề này khỏi đi vào chi tiết quá; dưới đây chúng ta chỉ nói đến bổn phận người Phật tử tại gia mà thôi. Nhưng nếu muốn vấn đề được đặt một cách sáng sủa, giản dị, và sát sủa hơn nữa, chúng tôi đề nghị nên bỏ bớt chữ người nữa. Nghĩa là chúng ta sẽ không nói đến bổn phận của người ở đây; bổn phận ấy mọi người, vì đã là người đều biết cả rồi (trong mọi sách luân lý, công dân đều có nói đến).
Như thế dưới đây, chúng tôi chỉ xin đề cập đến "bổn phận của Phật tử tại gia" mà thôi.
B. Chánh Đề
Bổn phận của Phật tử tại gia là những gì?
Phật là bậc toàn trí, toàn năng, toàn đức, đã dứt sạch ngã chấp, pháp chấp tất cả việc lành gì cũng được, nên công đức được đầy đủ và Phật đã biết rõ các phép đều tuân theo luật nhân quả, nên bao giờ cũng chỉ biết gieo nhân lành, làm việc lành.
Phật tử muốn được làm con Phật, muốn theo dấu chân Phật, muốn xứng đáng với danh từ Phật tử, tất phải làm tròn bổn phận của Phật tử, nghĩa là nghe những lời Phật đã dạy, làm theo những việc Phật đã làm, đi theo con đường Phật đã đi.
Phật tử, đáng lẽ phải làm y như thế đó. Nhưng bởi vì chúng ta là Phật tử tại gia, nên chưa có thể hoàn toàn theo đúng như Phật. Hai chữ tại gia ràng buộc chúng ta trong những bổn phận mà chúng ta phải làm tròn. Do đó, Phật tử tại gia, có những bổn phận như sau:
- Bổn phận đối với tự thân
- Bổn phận đối với gia đình, quyến thuộc
- Bổn phận đối với người ngoài gia đình
I. Bổn Phận Đối Với Tự Thân
Tu tâm dưỡng tính. Ngoài bổn phận làm người cho xứng với danh nghĩa con người, cho tròn nhân cách, Phật tử còn luôn luôn cố gắng trau dồi đức hạnh, tu tâm dưỡng tính, để cho thân tâm được an lạc, thanh tịnh, hầu hưởng được hạnh phúc trong hiện tại và bước lên đường giải thoát trong tương lai.
Mỗi Phật tử phải luôn luôn cố gắng vượt lên khỏi kiếp người, vượt ra ngoài lục đạo. Chúng ta từ vô thuỷ đến nay, vẫn sống say chết ngủ trong trường giả danh mộng huyền, luân hồi đã nhiều đời nhiều kiếp mà chúng sanh cũng hoàn lại chúng sinh. Ngày nay, chúng ta may nhờ phúc báo đời trước, được làm học trò Phật, mắt được trông vào quyển kinh, tai được nghe Phật pháp, cũng như đêm tối sẵn có đèn, trong bể khổ gặp thuyền tế độ. Nếu chúng ta không gắng sức tu tập, dứt bỏ những thói quen mê lầm phiền não, để cho tâm tính chúng ta được tiến hóa dần đến chỗ hoàn toàn viên mãn, thì sao cho khỏi phụ duyên lành đời trước của chúng ta và phụ công ơn đức Thích Ca, đấng Từ phụ đã hiện thân thuyết pháp, chỉ bày cho chúng ta những phương pháp tu hành để thoát khỏi sinh tử luân hồi. Phương pháp tu hành mà một Phật tử tại gia phần giải quyết tâm thực hiện là: giữ Ngũ Giới, tu Thập thiện, sám trừ các phiền não, chuyên tâm niệm Phật, phát tâm từ bi tế độ. Có như thế thì mới có thể vượt ra khỏi kiếp người, bước thêm một bước dài trên con đường giải thoát.
II. Bổn Phận Đối Với Gia Đình
Phật tử tại gia còn có gia đình quyến thuộc, nên còn nhiều bổn phận không thể làm ngơ được. Phật tử có cha mẹ, vợ hay chồng, con cái, bà con thân thích, người giúp công hay kẻ mướn việc...Đối với mỗi hạng người ấy, Phật tử đều có mỗi cách đối xử, mỗi bổn phận.
Theo kinh Thiện Sinh, thì Phật tử tại gia có những bổn phận như sau đối với những người trong nhà:
1. Bồn phận con đối với cha mẹ, phải đủ năm điều:
a) Làm con phải hết lòng hiếu kính đối với cha mẹ, tùy theo mùa tiết hàn, nhiệt, mà chăm nom mền chiếu, ấm áp hợp thời, để cha mẹ được nghỉ ngơi yên giấc.
b) Làm con mỗi ngày phải dậy sớm, để phân công việc cho người làm lụng đúng giờ, và lo sắp đặt miếng ăn thức uống cho cha mẹ được vừa miệng đẹp lòng.
c) Làm con phải gánh vác tất cả công việc nhọc nhằn, thay thế cho cha mẹ, để cha mẹ được thư thới, vui vẻ trong tuổi già.
d) Làm con phải nhớ nghĩ luôn luôn đền ơn sinh thành, dưỡng dục, để lo báo đáp cho kịp trong lúc cha mẹ còn sinh tiền.
đ) Làm con, khi cha mẹ đau ốm, phải hết lòng săn sóc, hầu hạ bên giường, không nài khó nhọc và ân cần rước thầy xem mạch, thuốc thang điều trị không sợ hao tốn.
2. Bổn phận cha mẹ đối với con, cũng phải đủ 5 điều:
a) Phải dạy dỗ con dứt trừ tất cả điều hung ác, làm tất cả điều lành, để trở nên người có đức hạnh.
b) Phải khuyên răn con cái, nên gần gũi người trí tuệ.
c) Phải nhắc nhở con cái, cần mẫn học hành.
d) Phải liệu định cưới gả con cái cho kịp lúc xuân thời.
đ) Phải cho con cái bàn tính tham dự việc nhà, cùng góp công trong sự xây dựng hạnh phúc gia đình.
3. Bổn phận vợ đối với chồng, phải đủ 5 điều:
a) Phải kính yêu và hòa thuận với chồng, khi chồng ra đi hay trở về, phải đưa đón niềm nở.
b) Phải giữ gìn tiết hạnh, không được ngoại tình.
c) Lúc chồng nóng giận nặng lời, không nên bừng mặt cãi lẫy, làm mất hòa thuận và có khi phải rã rời giềng mối. Lại khi chồng có lời khuyên bảo chính đáng, vợ phải vâng theo; khi có món ngon vật quí, không nên dùng riêng cho mình.
4. Bổn phận chồng đối với vợ, cũng phải đủ 5 điều:
a) Khi vợ ra đi hay lúc trở về, phải đưa đón niềm nở.
b) Phải ăn uống cho có giờ khắc và đừng quá khó khăn, để vợ khỏi phải phiền lòng nấu nướng không chừng và lo lắng cực nhọc.
c) Phải tùy phận giàu nghèo của mình, để vợ mua sắm áo quần và đồ trang sức vừa theo sở thích, không hẹp lòng làm vợ buồn phiền.
d) Không được sanh tâm tà vạy, sớm mận tối đào, làm cho vợ ghen tuông sầu não.
5. Bổn phận đối với bà con thân thích, phải có đủ 5 điều:
a) Khi thấy bà con có người làm việc chẳng lành, thì phải thương xót khuyên can, răn nhắc.
b) Trong bà con thân thích, có người nào bị đau ốm, tai nạn, tật nguyền, thì phải hết lòng giúp đỡ, hoặc cơm cháo thuốc men, hoặc áo quần, tiền bạc v.v..
c) Những việc kín đáo, riêng tư của người này, mình có biết cũng không nên tiết lộ cho người khác biết.
d) Bà con thân thích, phải năng tới lui thăm viếng, nhắc nhở nhau tránh dữ làm lành. Đôi khi có ý kiến chẳng đồng, cũng nên hoan hỷ, đừng cố chấp giận hờn nhau.
đ) Trong thân bằng quyến thuộc, có kẻ giàu người nghèo, lẽ cố nhiên người dư ăn dư để, phải giúp đỡ cho kẻ thiếu hụt.
6. Bổn phận chủ đối với người giúp việc trong nhà, phải có đủ 5 điều:
a) Chủ nhà trước khi sai khiến người giúp việc làm gì, trước phải biết họ, đói, no, ấm, lạnh thế nào để họ có đủ sức khỏe và vui lòng làm lụng.
b) Lúc nào người giúp việc bị bệnh loạn, phải chăm non thuốc thang và để cho họ được nghỉ ngơi, để bồi bổ sức khỏe lại.
c) Khi họ có phạm lỗi gì, phải xét coi họ cố ý hay vô tình. Nếu vô ý lầm lỡ, thì nên dung thứ; nếu họ quyết lòng phá hại, thì phải làm nghiêm trách hẳn hoi, với lời lẽ thanh nhã, cho họ biết lỗi để chừa.
d) Khi họ tiện tặc tích góp được số tiền riêng, không nên tìm cách thâu đoạt.
đ) Khi muốn thưởng công lao cho họ, phải giữ mực công bình, tùy công lao của mỗi người mà phân chia cho cân xứng.
III. Bổn Phận Đối Với Người Ngoài Gia Đình
Những người ngoài gia đình, chúng tôi muốn nói ở đây, không phải những người xa lạ, hay hàng xóm láng giềng, mà chính là những người có sự liên quan mật thiết với chúng ta, nhưng không cũng quyến thuộc, không ở chung dưới một mái nhà, nên tạm gọi là những người ngoài gia đình.
Những người này giữ vai trò quan trọng trong đời sống của chúng ta, lái chúng ta đi trên con đường hiểu biết đạo đức, góp một phần lớn lao trong việc xây dựng hạnh phúc cho chúng ta. Đó là những vị thầy dạy dỗ và những vị Tăng già và thiện hữu tri thức.
1. Bổn phận học trò đối với thầy, phải đủ 5 điều:
a) Phải kính mến thầy như cha mẹ
b) Phải vâng lời thầy dạy bảo.
c) Phải giúp đỡ thầy trong cơn hoạn nạn.
d) Phải siêng năng học tập cho vui lòng thầy.
đ) Khi thôi học rồi, cũng phải năng tới lui thăm viếng thầy, để tỏ lòng cảm mến công ơn dạy dỗ và quý trọng tài đức của Thầy..
2. Bổn phận thầy đối với trò, cũng phải đủ 5 điều:
a) Phải cần mẫn dạy dỗ học trò.
b) Phải cố gắng làm sao cho học trò mình mau tiến bộ hơn học trò khác, về tài năng cũng như về đức hạnh.
c) Phải để ý đến những điều cần yếu làm sao cho học trò in sâu mãi vào tâm trí.
d) Phải giảng giải rõ ràng các lý thuyết mắc mỏ và hỏi lại nhiều lần cho học trò không lầm lạc.
đ) Phải có lòng rộng rãi, mong muốn làm sao cho học trò mình được trở nên giỏi hơn mình.
3. Bổn phận Tín đồ đối với chư Tăng và thiện hữu tri thức phải đủ 5 điều:
a) Phải hết lòng thành thật đối với chư Tăng và thiện hữu tri thức.
b) Phải cung kính và vâng lời dạy bảo của quí vị minh sư và các thiện hữu.
c) Phải chăm chỉ nghe lời giảng dạy của các vị Tăng già đức độ, thẩm xét cho kỹ lưỡng rồi như pháp mà tu hành.
d) Phải cầu học với chư Tăng và thiện hữu những chỗ bí yếu về đạo lý mà mình chưa hiểu.
đ) Phải cầu thỉnh các vị minh sư chỉ dạy cho mình những pháp môn cần yếu, như "tham thiền", "niệm Phật " để ngày đêm chuyên tâm tu trì, không gián đoạn.
IV. Cách Xưng Hô Và Một Số Nghi Thức Cần Thiết Của Người Phật Tử Tại Gia
Ngoài những bổn phận nói trên, Phật tử tại gia còn cần phải biết cách xưng hô khi tiếp xúc với quý vị Tăng già, và những nghi thức cần thiết khi đến chùa, khi lễ Phật, cầm kinh v.v...Đã là Phật tử, thì những điều này, mặc dù là hình thức, cũng không thể không biết đến.
1. Cách chào hỏi và xưng hô với Tăng già:
Phật tử phải biết cách đối xử, xưng hô với chư Tăng cho phải phép:
a) Khi gặp một vị hay nhiều vị Tăng tại chùa hay ngoài đường, nên chắp tay kính cẩn chào, bằng cách niệm: "Nam mô A Di Đà Phật ", với vẻ mặt hoan hỷ với mình. Lối chào ấy biểu lộ một tình cảm đậm đà, còn hơn lối chào bắt tay của người Âu Tây. Sở dĩ chào nhau bằng một câu bảo hiệu Phật, là để nhắc rằng ai cũng có Phật tánh (bản tánh A Di Đà), nếu quyết chí tu, rồi cũng đến được cảnh giới Tịnh độ và cuối cùng sẽ thành Phật.
b) Về cách xưng hô, Phật tử tại gia không nên kêu chư Tăng bằng Huynh hay Sư huynh hay Đạo hữu mà nên kêu bằng thầy, mặc dù vị ấy là đồng sư.
Những tiếng Thượng Tọa, Đại Đức không nên quá lạm dụng, không phải đối với vị sư nào cũng gọi là Thượng Tọa hay Đại Đức được cả. Chỉ đối với những vị sư có đạo hạnh, nhiều niên lập (tuổi Đạo), và đối với mình chưa quen thân lắm, mới nên dùng chữ Thượng Tọa hay Đại Đức. Đối với các vị Bổn sư, các vị Tăng già mình thường quen biết, dùng chữ "Thầy" là phải cách và đầy đủ ý nghĩa nhất. Thầy là có ý tôn kính như cha (quân, sư, phụ) và là người thường dạy bảo mình trên đường tu tập. Thầy có vẻ vừa tôn kính, vừa thân mật, vừa chân thật, chứ không như chữ Thượng Tọa hay Đại Đức có vẻ xã giao kiểu cách, đãi bôi, bề ngoài. Chúng ta nên thận trọng mỗi khi dùng những chữ ấy, để khỏi bị người ngạo đạo hiểu lầm là quí vị Tăng già muốn được gọi như thế, vì còn thích chức tước, hư danh.
c) Trước khi vào Chánh điện lễ Phật, phải rửa mặt, súc miệng, rửa tay cho sạch sẽ, để giấy gút ngoài thềm cửa, đừng mang vào Điện mà tổn Phước. Khi tiến tới Điện thì đi ở phía trái, khi ra thì đi về phía hữu, theo cách "hữu nhiễu" của nhà Phật (đi quanh theo chiều hữu, ba hay bảy vòng, để tỏ lòng kính mến Phật ).
Khi đi ra, phải chú ý coi chừng dưới chân, để tránh khỏi sự dẫm đạp trùng kiến. Giữ được như thế, được phước đức hơn là phóng sanh mà không biết giữ.
d) Khi tụng kinh, phải chắp hai tay ngang ngực, mười ngón tay từng cặp bằng nhau, không so le, hai lòng bàn tay khít lại, đừng để trống giữa. Chân đứng ngang bằng, hình chữ "bát", mắt ngó xuống, chăm chỉ tụng cho các câu rành mạch, không nên ỷ giọng hay, tụng to tiếng động chúng. Phải tụng cho ăn nhịp, theo tiếng mõ và tiếng tụng của ông Duy na (dẫn đầu).
Khi lễ Phật, năm vóc phải sát đất, nghĩa là đầu, hai tay, hai gối, phải sát chiếu, hết lòng thành kính mà lễ. Khi lạy phải xích qua một bên, vì phía sau còn có chùa thờ Hộ pháp hay tượng Phật và nhường chỗ cho ngôi Trụ trì. Khi lễ Phật xong, đi ra phải bước lui, mắt ngó tượng Phật, đừng quay lưng lại.
đ) Trước khi cầm kinh hay tụng phải rửa tay. Cầm kinh sách đem đi đâu, nên ôm trên ngực, đừng cặp bên nách như quyển sách thường, vì kính kinh như kính Phật. Nếu cầm kinh mà muốn chào người, thì phải để kinh trên bàn trước khi chào. Gặp trường hợp không có chỗ để kinh, thì ôm vào ngực mà chào: "A Di Đà Phật " là được. Kiêng nhất là cầm quyển kinh mà xa chào người.
Trên đây là kể sơ lược một số oai nghi tế hạnh mà Phật tử tại gia phải giữ gìn. Oai nghi của người xuất gia thì nhiều lắm, nhưng không phải phạm vi của bài này, nên không nói đến.
C. Kết Luận
Khuyên Phật tử tại gia giữ tròn bổn phận.
Bổn phận của Phật tử tại gia như vừa trình bày ở trên, tuy kể ra thì nhiều, nhưng không có gì là cao kỳ khó khăn phức tạp. Những điều ấy, một người chưa phải là Phật tử , nhưng có chút đức hạnh, cũng đã hiểu rồi, biết rồi.
Nhưng điều quan trọng ở đây, không phải là hiểu biết mà là thực hành, những điều đã hiểu biết ấy. Trong cuộc sống tầm thường hằng ngày, làm tròn bổn phận có nhiều khi còn khó hơn là ra trận giết quân thù, hay trèo non lội suối. Những công việc khó khăn như bất thường này chỉ cần vận động sự cố gắng và hăng hái trong một khoảng thời gian nhất định, chứ những bổn phận tầm thường hằng ngày, muốn làm cho tròn, phải vận dụng sự kiên nhẫn và cố gắng suốt cả đời. Vì lý do ấy mà tục ngữ ta có câu: " Thứ nhất tu nhà, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa".
Vậy chúng ta không nên xem thường những bổn phận tầm thường của chúng ta, mà phải luôn luôn cố gắng làm cho tròn. Sự cố gắng này sẽ đem lại cho chúng ta một phần thưởng chắc chắn thật là đưa dần chúng ta lên đường giải thoát.
Sự kiện
Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng.
NĂNG LỰC CỦA HAI LỜI CẦU NGUYỆN trong Khóa tu trì tụng Đức Liên Hoa Sinh
---
Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng.
Vào ngày ấy, tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên, đại chúng sẽ cùng nhau trì tụng 25 thời cầu nguyện Đức Liên Hoa Sinh như ý Thành tựu, cùng cử hành pháp hội Trường Thọ và cúng dường Tshog, cùng trì tụng Tôn Thắng Phật Mẫu và Bạch Độ Mẫu.
BARCHE LAMSEL – Lời cầu nguyện Tiêu trừ mọi chướng ngại trên đường tu
Đây là kho tàng Terma được khai mở, được xem là một trong những lời cầu nguyện uy lực bậc nhất để hóa giải chướng ngại: chướng ngại của thân (bệnh tật, tai nạn), chướng ngại của hoàn cảnh (thị phi, đổ vỡ, mất mát), và chướng ngại vi tế nhất – chướng ngại của tâm khiến ta không thể tiến bước trên đường tu.
SAMPA LHUNDRUB – Lời cầu nguyện Thành tựu mọi ước nguyện một cách tự nhiên
Chính Đức Liên Hoa Sinh đã thệ nguyện: bất kỳ ai trì tụng lời cầu nguyện này với niềm tin không nghi ngờ, tâm nguyện chân chính của người ấy sẽ được thành tựu – không phải bằng nỗ lực gắng gượng, mà tự nhiên như trái chín rụng xuống.
Hai mươi lăm thời trì tụng trong một ngày không phải là một con số để hoàn thành. Đó là một hành trình đưa tâm đi từ ồn ào đến tĩnh lặng, từ hoài nghi đến tin tưởng, từ cầu xin đến hợp nhất.
Cùng với đó, thời khóa Trường Thọ – Tôn Thắng Phật Mẫu – Bạch Độ Mẫu là pháp tu bậc nhất để tịnh hóa nghiệp chướng đoản mệnh, tăng trưởng thọ mạng, sức khỏe, phúc đức và trí tuệ – không chỉ cho bản thân, mà hồi hướng cho cha mẹ, người thân đang bệnh duyên, và tất cả chúng sinh hữu duyên.
VÌ SAO CHUYÊN TU TẠI ĐẠI BẢO THÁP MANDALA TÂY THIÊN?
Kinh điển dạy rằng: cùng một lời cầu nguyện, cùng một câu minh chú, khi được trì tụng trong không gian linh thiêng của Bảo tháp, công đức được nhân lên gấp bội. Không phải vì Bảo tháp ban phát điều gì, mà vì nơi ấy tâm ta dễ dàng lắng xuống, dễ dàng mở ra, dễ dàng tin tưởng – và chính sự mở ra ấy là điều kiện để ân phúc gia trì có thể thấm vào.
Bạn có thể trì tụng ở nhà. Điều đó rất quý. Nhưng có những điều chỉ xảy ra khi bạn có mặt:
Khi hàng trăm người cùng cất lên một lời cầu nguyện, âm thanh ấy không còn là của riêng ai – nó trở thành một dòng chảy nâng đỡ tất cả, kể cả những người đang mệt mỏi, đang phân tâm, đang muốn bỏ cuộc.
Khi thân bạn ngồi yên trong Mandala suốt một ngày, tâm bạn học được điều mà mười ngày đọc sách không dạy nổi: sự kiên trì.
Khi bạn dâng một phẩm vật lên đàn Tshog, bạn không cúng dường cho một pho tượng – bạn đang cắt đứt thói quen bám giữ đã theo mình nhiều đời.
Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Đại Đình, Phú Thọ)
Thứ sáu, ngày 24/07/2026
0
Ngày
:
09
Giờ
:
47
Phút
Lịch tu tập tháng 7 năm 2026 tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên
Quý đạo hữu hoan hỷ lưu lại lịch, lên kế hoạch tham dự và chia sẻ tới người thân, bạn bè:
- 24/07 (Thứ sáu) Khóa tu Liên Hoa Sinh & Khoá tu Hộ Pháp Mahakala
- 27/07 (Thứ hai) Khóa Lễ cầu siêu độ chư Hương linh - Ngày thương binh - liệt sĩ
- 28/07 (Thứ ba) Khóa tu Quan Âm- Tam bộ Tài Thiên







