Thượng tọa Thích Viên Thành - Chân dung Bậc Giác ngộ (Phần 2)

Bản lĩnh của một bậc chân tu vượt qua mọi khó khăn hướng về giác ngộ

Sau hai năm xuất gia cầu đạo, người Tăng nhân - Thi sĩ bước tiếp trên con đường đạt đến giác ngộ chân như. Tuy chưa thâm nhập hết mọi lẽ huyền vi của Phật pháp, song hồn thơ phảng phất một chất thiền, một phong cách thanh cao đầy nhân sinh và từ ái, một khí phách hiên ngang, vững vàng và tự tin dù trước mặt là muôn vàn khó khăn, thử thách.

Từ cuối năm 1964 đến cuối năm 1968, Nhà thơ - Người tu hành bước vào những năm tháng học tập, rèn luyện đầy gian khổ. Trước hết là những gian khổ trong dùi mài kinh sách, giáo lý. Nhiều bài thơ trực tiếp ghi lại những cảm nhận sâu sắc của người đồng tử ham học và mạnh dạn tìm tòi, khám phá. Như bài “Học”, bài “Đọc kinh Pháp Bảo Đàn”, bài “Nguyện”, bài “Tỉnh ngủ buổi trưa” ....

Gió hút vào song rét tháng mười

Ngồi bên cửa sổ học không ngơi

Đầm đìa trước mặt, quên mưa hắt

Nhí nhéo ngoài hiên mặc khách chơi..

(Bài “Học”)

Những câu thơ tả thực đậm chất đời thường, đọc lên, thấy hiện rõ một dáng hình, một tư thế, một quyết tâm thật đẹp. Người đồng tử ấy đã đem tất cả sức lực tâm trí gửi vào đèn sách, mặc mưa gió, bão bùng, mặc những trò vui trần thế. Nhiều lúc, người ấy đã nguyện trước Phật đài:

Thắp trước Phật đài một nén nhang

Rì rầm nguyện dưới bóng từ lương

Hữu tình tăm tối thề dong đuốc

Hàm thức mê man quyết dẫn đường!

Biến cõi trầm luân thành Tịnh độ

Bắc cầu hành nguyện tới Tây Phương

Dù gian khó vẫn không lùi bước

Khoác áo Như Lai Lai để tự cường.

---

Đã vì chân lý tới am mây

Còn có lo gì đắng với cay

Sắt thép bền tâm thề giữ đạo

Đá vàng vững chí nguyện ăn chay

Gió to sóng cả từng quen thuộc

Nhẫn nhục độ sinh theo gót Phật

Làm cho biển phúc được chan đầy!

(Bài “Nguyện”)

Khi đã xác định rõ động cơ học tập đúng đắn thì người học sẽ có đủ sức mạnh tinh thần và thể lực để vượt khó, để vươn lên. Với động cơ học tập thật rõ ràng, đúng đắn. Học để nêu cao đuốc tuệ, để soi sáng, dẫn đường cho chúng sinh vượt qua vòng sân si u tối, đi tới “biển phúc chan đầy”. Qua học tập kinh sách mà cái tôi của một người tu hành dần hòa quyện với cái ta của hàm thức, đại chúng. Xác định rõ việc học của mình là “dong đuốc ... dẫn đường cho hàm thức mê man ... đi tới” cũng là thức tỉnh cho chính bản thân mình. Trong "Kinh Pháp Cú” Đức Phật từng dạy “chỉ có ta lầm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gột rửa sạch cho ta”. Phật pháp mênh mông sâu thẳm biết nhường nào! Vì thế, càng học, người tu hành cũng như người trần thế càng cảm thấy mình còn u tối, cần cố gắng gấp bội phần. Bừng tỉnh sau giấc ngủ buổi trưa, nhà thơ của chúng ta viết:

Ngọ qua mà dạ vẫn chân không

(Bài “Tỉnh ngủ buổi trưa”, năm 1965)

Và đọc kinh “Pháp Bảo Đàn” mà cảm thấy mình còn nhiều bỡ ngỡ!

Căng mắt nhìn theo tay trỏ nguyệt

Chao ơi! Pháp giới thật bao la.

(Bài “Đọc kinh Pháp Bảo Đàn”)

Kèm theo những vần thơ tỉnh thức về những khó khăn, thử thách trong quá trình học tập, tác giả đã ghi lại những lời Phật dạy mà đọc lên ai cũng thấm thía. Đức Phật dạy: “Người tu hành như tuyên chiến cùng ma oán. Hai bên giáp trận chỉ có một cách là: Chiến thắng thì đuổi được kẻ thù, thất bại thì sẽ bị kẻ thù giết chết” ... “Kẻ biết tự trọng không bao giờ che dấu những lỗi lầm của mình. Những cái nhơ nhuốc trong đời người đều bắt nguồn từ cái hoen ố nhỏ nhen”. Tuy vậy, những khó khăn thử thách trong học tập là thuộc cái bản thể ở trong ta.

Người biết tự trọng, có chân tâm, vâng theo lời giáo huấn của đức Phật thì có thể tự mình kiên trì tu tập, rèn luyện, sẽ đạt tới lý tưởng, dần dần tới cõi chân như, đốn ngộ. Còn những thử thách, những cản trở của ngoại giới mới thực sự khắc nghiệt đối với người tu hành. Tăng nhân – thi sĩ, tác giả của “Thiền môn thi ký” đã gặp phải những điều khắc nghiệt ấy.

Tiếp sau những vần thơ thể hiện đức tính kiên trì chăm chỉ học tập kinh sách là những vần thơ cay đắng mà đầy bản lĩnh của một bậc chân tu trước cuộc đời dâu bể.

Từ năm 1965 trở đi, tình hình chính trị, xã hội trên miền Bắc nước ta có nhiều biến động phức tạp. Giặc Mỹ mở rộng chiến tranh, mang bom đạn ra bắn phá các cơ sở quân sự, kinh tế, chính trị trên toàn lãnh thổ. Cả những vùng dân cư, những nhà thờ Công giáo, những ngôi chùa cảnh Phật..., chúng cũng không tha. Tất cả nhân tài, vật, lực của mọi miền thành thị, thôn quê đều phải tập trung vào nhiệm vụ chống lại bọn ác ma xâm lược. Thượng tọa Thích Viên Thành kể rằng: Vào thời gian này, việc học tập, rèn luyện để hoằng hóa giáo pháp của Ngài gặp khó khăn, thử thách khắc nghiệt.

Ba bài thơ “Cảnh chiều”, “Cảm xúc chiều đông” và “Từ giã chùa Cao Lá” ra đời giữa năm 1965 ghi lại khá chân thực cảnh ngộ và nỗi lòng của con người trước những khó khăn, thử thách ấy:

Chiều đông cuồn cuộn nổi phong hàn

Tôi đứng sườn non lệ chứa chan

Đau xót nhìn từng cây cỏ héo

Ngậm ngùi trông mỗi cánh hoa tàn...

(Bài “Cảm xúc chiều đông”)

Nhà thơ - Vị Tăng Nhân mười bốn tuổi ấy đứng lặng trên núi cao, ròng ròng hai hàng lệ. Nhìn “từng cây cỏ héo”, trong “mỗi cánh hoa tàn”, mà đau xót, ngậm ngùi, thương cỏ cây hoa lá đang chết dần, tàn tạ dần trong những cơn “phong hàn” ác nghiệt của tạo hoá. Và ngậm ngùi, đau xót hơn nữa là thương cho cảnh ngộ, thân phận của chính mình cũng đang bơ vơ, đang bị dập vùi... trong cơn gió lạnh cuộc đời. Thiên nhiên và con người hòa hợp. Ngoại giới và nội tâm hòa hợp.

Bao trùm tất cả những dòng thơ ấy là một tình thương, một tấm lòng bao dung rộng lớn. Thương mình, thương cỏ cây và ... thương đời, thương chúng sinh, hàm thức. Do đó, tuy câu thơ kế tiếp có đôi chút đắng cay, nhưng tình người vẫn đôn hậu, ấm áp:

Trách đời sinh tử mau ly hợp

Thương cảnh luân hồi chóng tự tan

Hàm thức còn say trong biển nghiệp

Bao giờ chở hết tới nê hoàn ...?

(Bài “Cảm xúc chiều đông”)

Cảnh “luân hồi”, thân “hàm thức”, và “biển nghiệp” ... được nhắc tới như muốn khái quát cái quy luật “khổ hải” của kiếp nhân sinh mà Đức Phật từng chỉ dạy. Nhà thơ như muốn bỏ qua mọi suy nghĩ nặng nề, truy tìm nguyên cứ mình bị đọa đày, “trục xuất”, để bày tỏ một cách nhìn, cách nghĩ bình tĩnh, theo sự vần xoay trong cái vô thường của tạo hoá. Vì thế câu thơ kết “Hàm thức còn say trong biển nghiệp, bao giờ chở hết tới nê hoàn” không bi thương, trái lại vẫn toát ra một mong muốn tích cực, mong sao cho chúng sinh và bản thân mau chóng vượt qua “biển nghiệp” (Biển đời oan nghiệt) để đến bến “nê hoàn” (Cõi Niết bàn, Cực Lạc giải thoát). Và người tu hành trẻ tuổi ấy đã ra đi, chấp nhận thử thách, quyết tâm tìm về “Bảo sở”, bước tiếp trên con đường mình đã lựa chọn:

Từ giã chùa Cao lúc sớm mai

Gánh kinh oằn oại chuyển trên vai

Có vầng tuệ nhật soi từng bước

Bảo sở đường sang chắc chẳng dài

(Từ giã chùa Cao Lá)

Viết được những câu thơ mang âm hưởng lạc quan kiên định như trên, chắc vị Thượng tọa tương lai đã tâm niệm được sâu sắc lời Phật dạy rằng: “Này các Phật tử, các con là Phật sẽ thành. Ta là Phật đã thành. Khởi được lòng tin như vậy, đã là đầy đủ được giới phẩm”. Và hẳn Người hằng tự nhắc mình ghi nhớ, noi theo câu ca của những người dân bình thường Việt Nam thành tâm đi theo Phật đạo:

Ở đời muôn sự của chung

Phát tâm Bồ Tát bao dung muôn loài...

Trong truyện cổ Phật giáo có câu chuyện một vị Tôn giả trên đường hành đạo, hướng về “Bảo sở” đã phải trải qua muôn vàn khó khăn gian kh

🔔 Vào dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương — ngày 25, 26 và 27/04/2026 — tại thánh địa Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Tam Đảo, Phú Thọ) linh thiêng, một pháp hội chưa từng có sẽ diễn ra:
 
🌸 PHÁP HỘI ĐẠI BI QUAN ÂM 2026
🕊️Cầu nguyện Quốc thái Dân an • Hòa bình Thế giới
 
🙏 Do Đức Gyalwang Drukpa — bậc Thượng sư được tôn kính là Hoá Thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát — đích thân chủ trì.
 
🌐 Xem chương trình Pháp hội, giải đáp thắc mắc và đăng ký tham dự tại đây