Nghi lễ cầu siêu quán đỉnh Jangwa lợi ích như thế nào?

Nghi lễ Quán đỉnh Jangwa Chuyển di tâm thức (cầu siêu)

Trong truyền thống Kim Cương thừa, nghi lễ Quán đỉnh Jangwa thường được các bậc Thầy Kim Cương Thượng sư thực hiện một cách vô cùng tỉ mỉ, kỹ lưỡng và cẩn thận. Ngoài các nghi lễ triệu linh tiếp linh, tắm vong thông thường, hương linh được triệu thỉnh đến trước đàn tràng, nhờ năng lực quán tưởng của Thượng sư, chư hương linh được thực hành tịnh hoá, sám hối tất cả những tội chướng lầm mê từ vô thủy kiếp, bao tội chướng của hương linh được làm tượng trưng thành hình bò cạp bằng mè đen… và một phần được đốt trong lửa trí tuệ, một phần được bỏ trong nước từ bi. Sau khi đã tịnh hoá xong, bậc Thượng Sư thực hành nghi lễ triệu thỉnh và cúng dường đức Phật A Di Đà để cầu xin trao truyền tứ quán đỉnh cho chư hương linh, nhờ vậy chư hương linh sẽ được vãng sinh Tịnh Độ.

Trong một đại lễ Quán đỉnh Jangwa chuyển di tâm thức, Kim Cương Thượng Sư cử hành nghi thức chuyển di tâm thức cho các chư hương linh. Không chỉ kinh điển Đại thừa, Kim Cương thừa mà ngay cả trong Phật giáo Nguyên thủy đều nói về thân trung ấm, ví dụ như kinh A Di Đà, đều chỉ dạy rằng những chúng sinh phạm trọng nghiệp ngay khi dứt hơi thở sẽ phải đọa ngay ba đường ác, còn những ai tích lũy nghiệp công đức và thiện nghiệp vừa khi nhắm mắt qua đời sẽ lập tức vãng sinh Tịnh độ hoặc đạt thành giác ngộ. Tuy nhiên, đa số hữu tình khi lìa trần đều phải trải qua giai đoạn Bardo (trung ấm). Giáo lý Kim Cương thừa dạy rằng, ở trạng thái trung ấm, trong vòng 49 ngày sau khi một người vừa qua đời, họ sẽ phải trải qua rất nhiều trải nghiệm khác nhau, và tiếp xúc với rất nhiều Bản tôn. Nhưng do thiếu tu tập thực hành quán tưởng chư Phật để nhận ra được chư Phật hay tự tính tâm thanh tịnh của mình, nên mặc dù có rất nhiều chư Phật An bình và Phẫn nộ xuất hiện trong trạng thái trung ấm để dẫn dắt giải thoát cho họ, vì quá sợ hãi họ lại thường chạy trốn, không nhận ra được đó là chư Phật thị hiện để cứu giúp mình. Do đó, hầu hết mọi người cho tới ngày thứ 49 đều tái sinh vào sáu đạo luân hồi, nhưng cũng có nhiều trường hợp họ bị kẹt ở lại trong trạng thái trung ấm không thể siêu thoát hàng vô lượng kiếp.

Trong Kim Cương thừa dạy rằng khi bị kẹt trong trạng thái trung ấm, chúng sinh phải chịu đựng rất nhiều khổ đau, lang thang khắp nơi trong sợ hãi, đói khát, buồn khổ, tham chấp, sân hận và hối tiếc về những kiếp sống đã trôi qua. Họ phải trải qua rất nhiều khó khăn, uất hận và đau đớn khổ sở. Thông qua các pháp tu Bản tôn A Di Đà Phật, Bất Động Phật, Bản tôn Quán Âm trong Kim Cương thừa, nương nhờ hồng ân Tam Bảo, nương theo giáo pháp chân thực và năng lực quán tưởng chư Phật Bản tôn, một bậc Thượng sư đã thực chứng Đại định A Di Đà hoặc thành tựu bất kỳ pháp môn nào khác, trong khi nhập Đại định, Ngài có khả năng dẫn dắt thần thức của những vong linh đang phải gánh chịu khổ đau trong trạng thái trung ấm tới trước mặt mình và ban dạy giáo pháp về vô thường, khai thị cho họ biết chính tâm tham chấp của họ với kiếp sống trước đây khiến họ bị kẹt trong trung ấm không thể siêu thoát.

Kinh điển cũng dạy rằng, trong trạng thái trung ấm, vong linh trở nên vô cùng thông minh hơn chín lần khi họ còn sống, có rất nhiều năng lực thần thông như có thể đọc được tâm của người khác, có thể biết được gia đình quyến thuộc có thực sự yêu thương họ không hay lại vui sướng trước cái chết của họ. Vì thần thức quá linh thông, họ lại càng đau đớn khổ sở hơn khi biết rằng những người thân của họ không thực sự quan tâm đến cảnh khổ của họ. Ngay lúc này, nếu có bậc Thượng sư giác ngộ với tâm đại từ đại bi khai thị giáo pháp và gia trì thì sẽ lợi lạc vô và khiến các vong linh tức thời được siêu thoát.


Người nhà thành tâm cầu nguyện cho chư hương linh vãng sinh Tịnh độ

Trong Đại lễ Quán đỉnh Jangwa, khi thực phẩm cúng dường được hóa thì mặc dù lúc này vong linh không còn thân vật lý nữa nhưng mùi hương được gia trì chân ngôn của chư Phật, Bồ tát và công đức được đem hồi hướng cho vong linh sẽ giúp làm tan biến cơn đói khát của họ. Sau lễ quán đỉnh cho vong linh, bậc Kim cương Thượng sư sẽ khai thị giáo pháp và dẫn dắt thần thức vãng sinh miền Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà.

Trong đàn tràng còn sử dụng những biểu tượng của đất, nước, gió, lửa, để Kim Cương Thượng sư khai thị cho chư hương linh đừng bám chấp vào thân thể của kiếp sống vừa qua. Bởi vì nếu có sự bám chấp nặng nề vào bản ngã hay vào thân thể vật lý thì chư hương linh sẽ vô cùng khó khăn trong giai đoạn thân trung ấm, có những trường hợp vì quá bám chấp, chư hương linh có thể đọa trong cảnh giới quỷ đói hàng ngàn năm chưa biết đến ngày nào ra khỏi. Điều quan trọng là vị Thượng Sư phải an trụ trong định để tiếp cận và khai thị giúp đỡ chư hương linh thoát khỏi sự bám chấp, lầm mê. Chính vì vậy phần cuối của nghi thức,tên và di ảnh của chư hương linh được hóa và sau đó được ban gia trì bằng nước cam lồ và chân ngôn Phật A Di Đà, điều này giúp chư hương linh nhận rõ bản chất vô thường của cuộc sống, sinh rồi tử, thân thể của họ, tên tuổi của họ đã thực sự tan biến trong ánh lửa tam muội giác ngộ, nhờ vậy chư hương linh nhẹ nhàng từ bỏ mọi sự bám luyến buộc ràng dễ dàng siêu thoát. Cuối cùng, bậc Kim cương Thượng sư cử hành pháp chuyển di tâm thức có công năng dẫn dắt, chuyển hóa thần thức của vong linh dung nhập vào tự tính tâm của Bản tôn A Di Đà. Kinh điển dạy rằng, trong số các cảnh giới Tịnh độ của chư Phật, nương nhờ đại nguyện lực của Đức Phật A Di Đà, vãng sinh cõi Tịnh độ của Ngài là dễ dàng hơn cả với điều kiện nếu các hương linh không phạm năm tội vô gián.


Bài vị viết tên chư hương linh được đốt bằng lửa trí tuệ

Nghi thức Quán đỉnh Jangwa chuyển di tâm thức cầu siêu độ chư hương linh của Kim Cương Thừa không chú trọng đến việc đọc sớ hay đốt vàng mã…cho hương linh, mà chú trọng đến sự khai ngộ của họ. Nên các bậc Thầy liên tục an trụ trong tâm từ bi, trí tuệ để hướng dẫn khai thị trợ giúp cho chư hương linh biết đường hướng mà đặt chân cất bước, chọn cho mình một kiếp sống tương lai tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Theo lời đức Phật dạy, mười pháp giới đều do tâm biến hiện. Tâm mê thì cảnh giới khổ đau hiện bày, tâm giác thì Niết Bàn an lạc hiện tiền. Chỉ vì từ vô thuỷ kiếp mê muội nên trôi lăn trong sáu đạo luân hồi, lúc sống thì bám chấp thân người, khi chết thì bám chấp vào ma cảnh, chính vì vậy luân lạc khổ đau không biết đâu là đầu mối. Nay may mắn nương nhờ ân đức gia trì, nhờ trí tuệ lực, từ bi lực và định lực của Kim Cương Thượng Sư khai mở tuệ giác giúp chư hương linh nhất thời khai ngộ trở về với Giác Tính của chính mình.

Trong một đại đàn lễ cầu siêu của Kim Cương Thừa còn có những nghi thức vũ điệu triệu thỉnh Tứ đại Kim Cương Hộ Pháp kết giới, gia trì cho đàn tràng thành cảnh giới Mandala Tịnh Độ, nhờ vậy chư hương linh được cảm ứng với những năng lượng linh thiêng, thanh cao mà dễ dàng siêu thoát.


Vũ điệu Kim Cương Hộ pháp

Theo giáo pháp Kim Cương thừa, nếu một người được thọ nhận và trì giữ giới Bồ tát, rồi chuyên cần tu tập thực hành quán tưởng cõi Tịnh độ Phật A Di Đà, luôn trì niệm chân ngôn Đức Phật A Di Đà: Om Ami Dewa Shri hay Om Amitabha ít nhất một trăm biến mỗi ngày, thì khi người đó lâm chung nhất định Đức Phật A Di Đà sẽ thị hiện tiếp dẫn bạn về miền Tịnh độ của Ngài. Nếu hành trì được như thế, hành giả không những được vãng sinh Tịnh độ mà thực chất là bạn trực nhận bản tâm và dung nhập trở thành bất nhị với Đức Phật A Di Đà. Giáo pháp này được trao dạy cho vong linh người đã mất. Và nếu họ được một bậc đại Thượng sư khai thị thì chắc chắn ít nhất là họ sẽ được vãng sinh Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà hoặc các miền Tịnh độ khác nếu đó là bậc A la hán hoặc Bồ tát ở ngôi thứ nhất. Bằng không, vong linh sẽ khó có thể vãng sinh Cực lạc.


Cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà

 

Sự kiện
Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng. NĂNG LỰC CỦA HAI LỜI CẦU NGUYỆN trong Khóa tu trì tụng Đức Liên Hoa Sinh --- Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng. Vào ngày ấy, tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên, đại chúng sẽ cùng nhau trì tụng 25 thời cầu nguyện Đức Liên Hoa Sinh như ý Thành tựu, cùng cử hành pháp hội Trường Thọ và cúng dường Tshog, cùng trì tụng Tôn Thắng Phật Mẫu và Bạch Độ Mẫu. BARCHE LAMSEL – Lời cầu nguyện Tiêu trừ mọi chướng ngại trên đường tu Đây là kho tàng Terma được khai mở, được xem là một trong những lời cầu nguyện uy lực bậc nhất để hóa giải chướng ngại: chướng ngại của thân (bệnh tật, tai nạn), chướng ngại của hoàn cảnh (thị phi, đổ vỡ, mất mát), và chướng ngại vi tế nhất – chướng ngại của tâm khiến ta không thể tiến bước trên đường tu. SAMPA LHUNDRUB – Lời cầu nguyện Thành tựu mọi ước nguyện một cách tự nhiên Chính Đức Liên Hoa Sinh đã thệ nguyện: bất kỳ ai trì tụng lời cầu nguyện này với niềm tin không nghi ngờ, tâm nguyện chân chính của người ấy sẽ được thành tựu – không phải bằng nỗ lực gắng gượng, mà tự nhiên như trái chín rụng xuống. Hai mươi lăm thời trì tụng trong một ngày không phải là một con số để hoàn thành. Đó là một hành trình đưa tâm đi từ ồn ào đến tĩnh lặng, từ hoài nghi đến tin tưởng, từ cầu xin đến hợp nhất. Cùng với đó, thời khóa Trường Thọ – Tôn Thắng Phật Mẫu – Bạch Độ Mẫu là pháp tu bậc nhất để tịnh hóa nghiệp chướng đoản mệnh, tăng trưởng thọ mạng, sức khỏe, phúc đức và trí tuệ – không chỉ cho bản thân, mà hồi hướng cho cha mẹ, người thân đang bệnh duyên, và tất cả chúng sinh hữu duyên. VÌ SAO CHUYÊN TU TẠI ĐẠI BẢO THÁP MANDALA TÂY THIÊN? Kinh điển dạy rằng: cùng một lời cầu nguyện, cùng một câu minh chú, khi được trì tụng trong không gian linh thiêng của Bảo tháp, công đức được nhân lên gấp bội. Không phải vì Bảo tháp ban phát điều gì, mà vì nơi ấy tâm ta dễ dàng lắng xuống, dễ dàng mở ra, dễ dàng tin tưởng – và chính sự mở ra ấy là điều kiện để ân phúc gia trì có thể thấm vào. Bạn có thể trì tụng ở nhà. Điều đó rất quý. Nhưng có những điều chỉ xảy ra khi bạn có mặt: Khi hàng trăm người cùng cất lên một lời cầu nguyện, âm thanh ấy không còn là của riêng ai – nó trở thành một dòng chảy nâng đỡ tất cả, kể cả những người đang mệt mỏi, đang phân tâm, đang muốn bỏ cuộc. Khi thân bạn ngồi yên trong Mandala suốt một ngày, tâm bạn học được điều mà mười ngày đọc sách không dạy nổi: sự kiên trì. Khi bạn dâng một phẩm vật lên đàn Tshog, bạn không cúng dường cho một pho tượng – bạn đang cắt đứt thói quen bám giữ đã theo mình nhiều đời.
Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Đại Đình, Phú Thọ)
Thứ sáu, ngày 24/07/2026
0
Ngày
:
13
Giờ
:
48
Phút
Đăng ký sự kiện
Lịch tu tập tháng 7 năm 2026 tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên
Quý đạo hữu hoan hỷ lưu lại lịch, lên kế hoạch tham dự và chia sẻ tới người thân, bạn bè:
  • 24/07 (Thứ sáu) Khóa tu Liên Hoa Sinh & Khoá tu Hộ Pháp Mahakala
  • 27/07 (Thứ hai) Khóa Lễ cầu siêu độ chư Hương linh - Ngày thương binh - liệt sĩ
  • 28/07 (Thứ ba) Khóa tu Quan Âm- Tam bộ Tài Thiên
👉 Xem lịch chi tiết và đăng ký tham dự tại đây