Bản tôn là gì?

Có lẽ đến lúc này chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn về khái niệm Bản tôn. Trong Phật giáo Kim Cương thừa, các hành giả thực hành quán tưởng về Bản tôn dựa trên nền tảng tâm chí thành. Những pháp thực hành Bản tôn này bắt nguồn từ những giáo lý thâm sâu của Đạo Phật và sử dụng kỹ thuật vô cùng thiện xảo để đánh thức sự chứng ngộ ở cấp độ sâu sắc nhất.

Nhờ thực hành Yoga Bản tôn, trí tuệ bản lai hiển lộ, các hành giả trải nghiệm tính không một cách đầy đủ, viên mãn, không bị ngăn ngại. Tính không là phẩm chất quang minh, là bản chất thực của tâm được trải nghiệm khi các vọng tưởng và xúc tình phiền não đã được tiêu trừ. Bản chất này của tâm luôn tồn tại, chưa bao giờ bị hủy hoại mà chỉ tạm thời bị vô minh che chướng. Do vậy tính không là nền tảng, mục đích và kết quả của sự thực hành tâm linh. Vì lý do này, Mật thừa còn được gọi là Quả thừa bởi vì phương pháp tiếp cận khám phá chính là kết quả sẵn có nơi tự thân - Phật không ở đâu khác mà ở chính tâm của chúng ta. Nếu chia chẻ theo truyền thống Căn Đạo Quả thì Căn là tự tính của một hữu tình, Đạo là các phương pháp để trở về với tự tính đó, Quả là sự thực chứng của Căn hợp nhất với Đạo.

Các Bản tôn thiền định trong thực hành Mật thừa là thể hiện của tự tính thanh tịnh. Theo một cách hiểu, thực hành Yoga Bản tôn là phương pháp để tiêu trừ sự phóng chiếu của tâm vô minh coi bản thân, tâm và vũ trụ của chúng ta là không hoàn thiện. Thực hành Yoga Bản tôn là cách để liên hệ với Phật tính của chúng ta. Do vô minh, chúng ta chấp nhầm bản ngã và thế giới xung quanh là có thật và quên đi tự tính tâm của mình. Khi vô minh nhầm lẫn phát triển thì những vọng tưởng nhị nguyên, những tình cảm bám chấp, sân giận và những hành động cùng dấu ấn nghiệp là hệ quả sẽ tự lặp đi lặp lại. Vì vậy, đây gọi là vòng luân hồi, là trải nghiệm khổ đau. Chúng ta không nhận hiểu được rằng tính không luôn tồn tại, chưa bao giờ vắng mặt, dù trong một sát na cuộc sống.

Biện pháp tu tập Mật thừa là sử dụng bất cứ thứ gì chúng ta có, bất cứ điều gì chúng ta tạo tác để làm phương pháp tu tập. Do đó chúng ta sử dụng chính khả năng phóng chiếu và sáng tạo - vốn là ánh sáng trí tuệ không bị che chướng trở ngại của tâm - làm con đường tu tập thiền định chuyển hóa mạnh mẽ. Thay vì sự phân biệt có tính chất khiếm khuyết về dục tính nam nữ, chúng ta có những Phật Bản tôn phụ tính và mẫu tính thể hiện những phẩm chất Phật Từ bi và Trí tuệ. Thay vì những góc tối nhiễm ô trong luân hồi, chúng ta có những tòa cung điện Mandala rực rỡ chói lòa, biến cõi luân hồi thành cõi Phật thù thắng huy hoàng, trở thành Mandala của Tâm giác ngộ.

Bản tôn có thể là hiện thân của lòng bi mẫn hoặc niềm khát khao giác ngộ lợi ích chúng sinh, ví dụ như Bản tôn Thắng Lạc Kim Cương nêu biểu sự viên mãn của Từ bi và Trí tuệ hợp nhất, thể hiện sự chuyển hóa của các căn bản phiền não thành tự tính Phật. Điều này có nghĩa là mỗi sắc tướng, cử chỉ, vũ điệu, mật ấn của các Bản tôn đều nêu biểu cho phẩm tính giác ngộ. Các ngài chính là phẩm chất Phật tính. Thực hành như vậy dẫn tới chứng ngộ về thân, khẩu, ý giác ngộ vốn sẵn có nơi tự tính tâm của mỗi chúng sinh.

Mối liên hệ Thượng sư - đệ tử là điểm cốt yếu, không thể thiếu trong thực hành giai đoạn Phát triển cũng như giai đoạn Thành tựu. Trong giai đoạn Phát triển, mối liên hệ này tạo ra yếu tố kết nối với tự tính Phật của chúng ta với Bản tôn được quán tưởng và Bản tôn này luôn được hiểu là bất khả phân với Căn bản Thượng sư. Thượng sư trở thành sắc tướng Báo thân Phật. Mọi phẩm chất của Phật đều đồng nhất với Thượng sư. Tâm chí thành với Thượng sư cũng mạnh mẽ tới mức tâm Bản tôn và tâm đệ tử là một và tất cả những phẩm tính giác ngộ của Thượng sư bất khả phân với phẩm tính giác ngộ của đệ tử. Đây là Quả của việc thực hành hợp nhất với Bản tôn và chứng ngộ đạt được trong giai đoạn Thành tựu, là phần siêu việt rốt ráo của thực hành Mật thừa.

Sự kiện
Trong Kim Cương thừa, pháp tu Phật Dược Sư là pháp chữa bệnh. Nếu muốn tu tập, hồi hướng cầu nguyện để tiêu trừ tất cả những chướng ngại bên trong và bên ngoài - là các phiền não chướng và bệnh tật - thì chúng ta cần thực hành pháp Dược Sư và đặc biệt càng cần thực hành nhằm ngày vía Phật Dược Sư. Thực hành vào ngày vía Phật Dược Sư sẽ vô cùng lợi ích. Những công đức hành trì Phật pháp, dùng thuốc gia trì, tích lũy thiện nghiệp, trì tụng chân ngôn, vi nhiễu Bảo tháp... sẽ tăng trưởng trong ngày này. Bởi lẽ Đức Phật Dược Sư ở phương Đông, cho nên 8 ngày đầu tháng là ngày mặt trăng ở mức độ 1/4 hơi chếch về phía Đông so với trái đất. Lúc này năng lượng về chữa lành trong tự thân chúng ta hòa cùng và tương ứng với năng lượng, nguyện lực của Đức Phật Dược Sư tạo nên nguồn năng lượng thanh tịnh, chữa lành mạnh mẽ. Thực hành Dược Sư còn giúp tiếp cận “bảy tầng lợi ích” - từ việc chuyển hóa, chữa lành thân và tâm, tới sự nghiệp, gia đình được hanh thông thuận lợi, rộng ra là tu tập cầu nguyện vì đất nước thái bình, nhân dân an lạc cho tới lợi ích muôn loài chúng sinh. Song song với việc cầu sức khỏe, bình an cá nhân, người tham dự được dẫn dắt từng bước để mở rộng tâm thức và lòng từ bi. Vì vậy, bạn đừng quên đặt lịch để tới tham dự Pháp hội Dược Sư Hiển Mật song tu trong trọn vẹn một ngày tại ngôi Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên linh thiêng!
Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Đại Đình, Phú Thọ)
Thứ hai, 22/06/2026
2
Ngày
:
04
Giờ
:
45
Phút
Đăng ký sự kiện
📣  Lịch tu tập tháng 6 năm 2026 tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên
Quý đạo hữu hoan hỷ lưu lại lịch, lên kế hoạch tham dự và chia sẻ tới người thân, bạn bè:
  • 22/06 (Thứ hai) Đại đàn Cầu an - Pháp hội Dược Sư
  • 24/06 (Thứ tư) Khóa tu Phật Trường Thọ và Khoá tu Hộ Pháp
  • 29/06 (Thứ hai) Khóa lễ cầu siêu độ chư Hương linh và Khoá tu Quan Âm - Tam bộ Tài Thiên
👉 Xem lịch chi tiết và đăng ký tham dự tại đây