Ba khía cạnh của Đức Phật Quan Âm

Nói về Đức Quan Âm một cách giản lược chúng ta có ba khía cạnh: Đức Quan Thế Âm bên ngoài, Đức Quan Thế Âm bên trong và Đức Quan Thế Âm bí mật.

1. Đức Quan Thế Âm bên ngoài có rất nhiều hiện tướng khác nhau, Ngài có thể hiện sắc tướng nghìn mắt nghìn tay, hai tay như Đức Kim Cương Thủ Vajrapani, hay bốn tay để nêu biểu lòng Từ-Bi-Hỷ-Xả, hay hiện tướng tám tay để nêu biểu tứ trí và tứ đức.

Pháp tu Trì tháp chân ngôn lần này là pháp thực hành Đức Quan Âm Tứ Thủ nêu biểu sự trải rộng tình yêu thương, lòng từ bi trí tuệ, sự hỷ lạc vô bờ và sự bình đẳng vô biên đến tất cả chúng sinh.


Đức Phật Quan Âm Tứ Thủ

Về ý nghĩa sắc thân Bản tôn Quan Âm Tứ Thủ:

  • Ngài có một mặt để nêu biểu cho Pháp thân.
  • Ngài có bốn tay để nêu biểu cho Từ, Bi, Hỷ, Xả.
  • Trên vai Ngài lại khoác tấm da nai nêu biểu cho đồng sự, nhập thế lợi ích chúng sinh, không quản khó khăn, mỏi nhọc.

Toàn bộ hình tướng Đức Quan Thế Âm chính là biểu tượng giác ngộ, là mục đích tu tập của chúng ta phải phấn đấu để tìm ra hạnh phúc cho chính bản thân mình và tất cả mọi người.

2. Đức Quan Thế Âm bên trong

Quan Thế Âm bên trong chính là Bồ đề tâm, sự giác ngộ. Sự giác ngộ này chúng ta phải nỗ lực tu tập mới có thể đạt được. Không vị Phật nào, Thượng sư giác ngộ nào, bậc thầy nào hay thần thông nào có thể giúp cho chúng ta đạt được giác ngộ. Bắt buộc chúng ta phải thực hành bằng cách trưởng dưỡng tình yêu thương. Và chúng ta chia sẻ tình yêu thương, lòng từ bi đó với những người thân gần chúng ta như gia đình, hàng xóm, những người trong cơ quan rồi đến làng mạc, thành phố, đất nước và rộng đến tất cả các chúng sinh. Bồ đề tâm chính là phẩm chất bên trong sắc thân Đức Quan Thế Âm.

Bồ đề tâm cũng được chia làm hai loại là: Bồ đề tâm tương đối Bồ đề tâm tuyệt đối.

Bồ đề tâm tương đối được chia ra làm hai loại là Bồ đề tâm nguyện và Bồ đề tâm hạnh.

Bồ đề tâm nguyện là lời cầu nguyện của chúng ta trong các khóa lễ. Đó là lời cầu nguyện Tứ vô lượng tâm: cầu nguyện cho chúng sinh được hạnh phúc, cầu nguyện cho chúng sinh thoát khỏi nhân đau khổ, cầu nguyện cho chúng sinh tràn ngập trong niềm hỷ lạc, cầu nguyện cho chúng sinh sống trong bình đẳng xả. Còn trong pháp thực hành chính là chúng ta phải trưởng dưỡng tình yêu thương và lòng từ bi.

Bồ đề tâm hạnh là cách chúng ta đem những phẩm chất giác ngộ từ bi hỷ xả áp dụng vào trong đời sống thông qua thực hành sáu ba la mật: bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ để trưởng dưỡng lòng từ bi, giúp đỡ tất cả mọi người và chúng sinh.

Còn một loại bồ đề tâm - cốt tủy chính của Đạo Phật là Bồ đề tâm tuyệt đối. Đó là sự thực chứng, sự trải nghiệm lòng từ bi trí tuệ hay giác ngộ.

Về cách thực hành Bồ đề tâm, đầu tiên chúng ta cần trưởng dưỡng tình yêu thương, lòng bi mẫn đến chúng sinh, rồi sẽ tiến dần đến đạt giác ngộ. Tuy nhiên, cũng có hành giả tu tập đạt được tính không, một phần của sự giác ngộ, sau đó trưởng dưỡng tình yêu thương, trí tuệ.

Sự giác ngộ bao gồm viên mãn cả hai Bồ đề tâm tương đối và Bồ đề tâm tuyệt đối. Chúng ta không thể tu thiên lệch một khía cạnh. Cho nên việc chúng ta cần làm các thiện hạnh như nhặt rác bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tham gia vào Câu lạc bộ thiện nguyện, trở thành tình nguyện viên của Câu Lạc Bộ Tuổi trẻ Thăng Long YDA Việt Nam  hay Sống để yêu thương.

Thành viên CLB Tuổi trẻ Thăng Long trong các thiện hạnh bảo vệ môi trường

Chúng ta không thể chỉ giúp đỡ mọi người mà bản thân mình không biết nỗi khổ của mình, không hiểu mình là ai và đang trải nghiệm như thế nào thì việc giúp đỡ người khác là không toàn diện. Đối với Phật giáo, sự giúp đỡ như vậy không mang lại lợi ích bởi chỉ làm tăng trưởng bản ngã và danh tiếng, chứ không thật chất.

Có nhiều người không hiểu được bản chất thật của hạnh phúc, không hiểu bản chất của luân hồi đau khổ là do chấp ngã, do cái Tôi. Rất nhiều người thường nói về tình yêu thương hay từ bi nhưng lại không hiểu đúng về khái niệm này.

Vậy thế nào là tình yêu thương và lòng từ bi?

TÌNH YÊU THƯƠNG

Tình yêu thương là sự mong muốn cho chúng sinh được hạnh phúc. Đó là bản chất bình đẳng của tâm giác ngộ. Tình yêu thương cũng được chia ra làm 2 loại: tình yêu thương có điều kiện và tình yêu thương vô điều kiện.

Tình yêu thương có điều kiện cũng được phân chia thành tình yêu thương lành mạnh hay tình yêu thương không lành mạnh, nói một cách khác là tình yêu thương tích cực hay tình yêu thương tiêu cực.

  • Tình yêu thương tích cực: chúng ta thương yêu, giúp đỡ người khác như tình yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu cha mẹ, yêu con người, yêu đồng loại.
  • Tình yêu thương tiêu cực là tình yêu thương dựa vào bám chấp, ích kỷ vào cảm xúc với bất kể các đối tượng bên ngoài như đồ ăn, thức uống, sở hữu vật chất, tư tưởng cố thủ và sở hữu ngay cả con người. Và kết quả chắc chắn của tình yêu bám chấp này sẽ mang đến buồn khổ, tuyệt vọng.

Điều này chúng ta thấy rất nhiều trong cuộc sống. Bởi vì hiểu lầm về tình yêu thương, chúng ta đã bám chấp vào sở hữu bên ngoài cho là tuyệt đối. Khi chúng ta cho công việc là tuyệt đối, chúng ta phải phấn đấu đạt được. Nếu không đạt được như những gì mình muốn, chúng ta lại thất vọng, nhiều người có khi tự sát. Đối với tình cảm cũng như vậy, tình cảm là cảm xúc, cảm xúc tất nhiên là sinh diệt, thay đổi. Đã sinh diệt, thay đổi chúng ta sẽ bị thăng trầm, nay vui mai buồn, nay gần mai xa. Khi đối tượng không được như ý, chúng ta có khi làm tổn hại người khác, nhưng có khi lại sát hại chính mình. Đây là kết quả của những thứ tình cảm tiêu cực. Ngay cả tình cảm trong gia đình, nếu chúng ta không biết cân bằng sẽ sai lệch.

Tình yêu thương bao gồm cả hai: Sự trân trọng, tri ân hay nói một cách khác là lòng kính ngưỡng, tất nhiên một phần là cảm xúc. Nhưng đối với tình cảm riêng tư chúng ta hiểu lầm cảm xúc là tình yêu thương nên bám chấp, hy vọng, sợ hãi, ích kỷ. Chúng ta lấy đó làm đích sống nên cả ngày chúng ta chỉ quay quẩn với việc giải quyết cảm xúc: buồn vui, yêu ghét.

Kết quả của hai loại tình yêu thương này dù tích cực hay tiêu cực đều dựa vào sự chấp ngã, cảm xúc cho nên kết quả không được nhiều như mong muốn.

Tình yêu thương vô điều kiện

Tình yêu thương này không đòi hỏi phải đáp trả. Chúng ta giúp đỡ người khác mà không mong cầu một cái nhìn, một nụ cười hay mong người đó nhớ đến ơn mình.

Trưởng dưỡng tình yêu thương vô điều kiện là điều chúng ta cần thực hành, giúp đỡ người khác một cách tuyệt đối, bình đẳng là một phần của tâm giác ngộ.

LÒNG TỪ BI

Tình yêu thương là mong muốn cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc. Còn từ bi là mong muốn chúng sinh chấm dứt nguyên nhân đau khổ. Sau khi nhìn thấy những đau khổ của đồng loại chúng sinh, chúng ta muốn cứu khổ. Đây chính là lòng từ bi.

Lòng từ bi có ba loại:

  • Lòng từ bi hướng về con người, hướng về chúng sinh.

Thấy họ phải trải qua đau khổ của sự bấp bênh, bệnh tật, chướng ngại, luôn bị khổ đau dày vò, khổ đau về tiền tài, danh vọng, về cảnh sống không được như ý muốn. Chúng ta trải lòng thương xót và muốn giúp đỡ họ. Lòng từ bi này hướng về sự đau khổ của chúng sinh. Trong thuật ngữ chúng ta gọi là chúng sinh duyên từ.


Thành viên CLB Tuổi trẻ Thăng Long phát cháo tại Viện châm cứu Trung ương

  • Lòng từ bi hướng về vạn pháp

Một cấp độ sâu hơn, không chỉ nhìn thấy chúng sinh đau khổ và muốn cứu khổ mà chúng ta phải nhìn thấy tại sao chúng sinh đau khổ, tại sao chúng ta đau khổ. Chỉ vì vô minh, chúng ta không nhận ra chân lý của vạn pháp: trân trọng thân người khó được, thân tâm cảnh luôn biến dịch vô thường và tuân theo nhân quả nghiệp báo. Những điều chúng ta tạo tác qua thân, khẩu, ý thì đều phải chịu quả báo, gieo nhân thiện lành được hưởng hạnh phúc, làm điều bất thiện phải chịu khổ đau. Đây là quy luật chung cho tất cả mọi loài, không chỉ là bản thân bạn, toàn bộ những ai đã có mặt ở thế gian này đều trải nghiệm những nỗi khổ về vật chất, tinh thần ở các cấp độ khác nhau.

Nếu hiểu được như vậy thì chúng ta không tuyệt vọng trước vô thường, đổi thay. Thấu hiểu được nguyên nhân dẫn đến vô minh, từ đó khơi dậy và trưởng dưỡng lòng từ bi là việc chúng ta cần phải thực hành trong Đạo Phật. Do vô minh nên đã chấp vạn pháp vô thường làm thường còn. Thân của mình sinh ra phải trả về cho đất, lại chấp là mình có một “cái tôi” thật, một cái ngã thật. Tất cả vạn pháp vốn thay đổi thì chúng ta lại tin rằng vạn pháp thường còn. Chúng ta lại không hiểu được tự tính của vạn pháp là tính Phật.

Khi đã hiểu quy luật của vạn pháp trên bề mặt lý thuyết, chúng ta cần phải chiêm nghiệm bởi nếu không chiêm nghiệm, không có sự giác tỉnh thì chúng ta không thể an vui. Nếu vẫn giữ vô minh, đem hành xử tiêu cực trong cuộc sống vào Phật pháp thì dù có tham dự chuyên tu, có trì đến 108 Bảo tháp, chúng ta vẫn y nguyên con người như cũ. Sau khi một thời gian tu tập vẫn thấy mình bùng bùng sân giận, lòng từ bi cũng chẳng trưở

Sự kiện
Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng. NĂNG LỰC CỦA HAI LỜI CẦU NGUYỆN trong Khóa tu trì tụng Đức Liên Hoa Sinh --- Theo truyền thống Kim Cương thừa, mùng 10 hàng tháng theo lịch Kim Cương Thừa (tháng này là 24/07 DL) là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh – Guru Rinpoche, Đức Phật thứ hai, bậc Thượng sư đã phát lời thệ nguyện rằng Ngài chưa từng, và sẽ không bao giờ, rời xa những ai hướng về Ngài với niềm tin. Ngài dạy: nơi nào có lời cầu nguyện chí thành, nơi đó Ngài hiện diện – không phải như một ký ức xa xôi của lịch sử, mà như một sự hiện diện sống động ngay trước cửa nhà, ngay trong tâm người trì tụng. Vào ngày ấy, tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên, đại chúng sẽ cùng nhau trì tụng 25 thời cầu nguyện Đức Liên Hoa Sinh như ý Thành tựu, cùng cử hành pháp hội Trường Thọ và cúng dường Tshog, cùng trì tụng Tôn Thắng Phật Mẫu và Bạch Độ Mẫu. BARCHE LAMSEL – Lời cầu nguyện Tiêu trừ mọi chướng ngại trên đường tu Đây là kho tàng Terma được khai mở, được xem là một trong những lời cầu nguyện uy lực bậc nhất để hóa giải chướng ngại: chướng ngại của thân (bệnh tật, tai nạn), chướng ngại của hoàn cảnh (thị phi, đổ vỡ, mất mát), và chướng ngại vi tế nhất – chướng ngại của tâm khiến ta không thể tiến bước trên đường tu. SAMPA LHUNDRUB – Lời cầu nguyện Thành tựu mọi ước nguyện một cách tự nhiên Chính Đức Liên Hoa Sinh đã thệ nguyện: bất kỳ ai trì tụng lời cầu nguyện này với niềm tin không nghi ngờ, tâm nguyện chân chính của người ấy sẽ được thành tựu – không phải bằng nỗ lực gắng gượng, mà tự nhiên như trái chín rụng xuống. Hai mươi lăm thời trì tụng trong một ngày không phải là một con số để hoàn thành. Đó là một hành trình đưa tâm đi từ ồn ào đến tĩnh lặng, từ hoài nghi đến tin tưởng, từ cầu xin đến hợp nhất. Cùng với đó, thời khóa Trường Thọ – Tôn Thắng Phật Mẫu – Bạch Độ Mẫu là pháp tu bậc nhất để tịnh hóa nghiệp chướng đoản mệnh, tăng trưởng thọ mạng, sức khỏe, phúc đức và trí tuệ – không chỉ cho bản thân, mà hồi hướng cho cha mẹ, người thân đang bệnh duyên, và tất cả chúng sinh hữu duyên. VÌ SAO CHUYÊN TU TẠI ĐẠI BẢO THÁP MANDALA TÂY THIÊN? Kinh điển dạy rằng: cùng một lời cầu nguyện, cùng một câu minh chú, khi được trì tụng trong không gian linh thiêng của Bảo tháp, công đức được nhân lên gấp bội. Không phải vì Bảo tháp ban phát điều gì, mà vì nơi ấy tâm ta dễ dàng lắng xuống, dễ dàng mở ra, dễ dàng tin tưởng – và chính sự mở ra ấy là điều kiện để ân phúc gia trì có thể thấm vào. Bạn có thể trì tụng ở nhà. Điều đó rất quý. Nhưng có những điều chỉ xảy ra khi bạn có mặt: Khi hàng trăm người cùng cất lên một lời cầu nguyện, âm thanh ấy không còn là của riêng ai – nó trở thành một dòng chảy nâng đỡ tất cả, kể cả những người đang mệt mỏi, đang phân tâm, đang muốn bỏ cuộc. Khi thân bạn ngồi yên trong Mandala suốt một ngày, tâm bạn học được điều mà mười ngày đọc sách không dạy nổi: sự kiên trì. Khi bạn dâng một phẩm vật lên đàn Tshog, bạn không cúng dường cho một pho tượng – bạn đang cắt đứt thói quen bám giữ đã theo mình nhiều đời.
Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Đại Đình, Phú Thọ)
Thứ sáu, ngày 24/07/2026
0
Ngày
:
07
Giờ
:
54
Phút
Đăng ký sự kiện
Lịch tu tập tháng 7 năm 2026 tại Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên
Quý đạo hữu hoan hỷ lưu lại lịch, lên kế hoạch tham dự và chia sẻ tới người thân, bạn bè:
  • 24/07 (Thứ sáu) Khóa tu Liên Hoa Sinh & Khoá tu Hộ Pháp Mahakala
  • 27/07 (Thứ hai) Khóa Lễ cầu siêu độ chư Hương linh - Ngày thương binh - liệt sĩ
  • 28/07 (Thứ ba) Khóa tu Quan Âm- Tam bộ Tài Thiên
👉 Xem lịch chi tiết và đăng ký tham dự tại đây