Những đức tính tốt của con người
Chủ nhật, 28/08/2016, 10:36
Những đức tính tốt của con người
Một con người sống trong cộng đồng xã hội, có nhiều mối tương quan mật thiết, đó là mối tương quan giữa thầy trò, cha mẹ, con cái, vợ chồng, bè bạn, anh em, v.v... Muốn nâng cao giá trị của con người, đem lại hạnh phúc cho cộng đồng, mỗi cá nhân phải cư xử với những người đồng loại bằng một tình cảm cao cả. Cái tình cảm cao cả này, nếu nằm trong tương quan giữa người dân đối với tổ quốc, thì gọi là lòng trung thành; nếu nằm trong tương quan giữa thầy trò thì gọi là nghĩa thầy trò; nếu nằm trong tương quan giữa vợ chồng, bè bạn, anh em thì gọi là tình vợ chồng, tình bè bạn, tình anh em; nếu nằm trong tương quan giữa cha mẹ đối với con cái thì gọi là đức nghiêm từ; nếu nằm trong mốì tương quan giữa con cái đối với cha mẹ thì gọi là lòng hiếu thảo. Vì thế, nếu bàn đến lòng hiếu thảo mà không đề cập đến lòng trung thành, nghĩa thầy trò, tình chồng vợ, anh em v.v..., thì e rằng vẫn còn phiến diện. Bởi vì, cùng một đức tính cao đẹp ấy, nếu thi thiết đối với cha mẹ thì gọi là lòng hiếu thảo, mà thi thiết trong phạm vi vợ chồng thì gọi là tình vợ chồng. Thế nên, một kẻ bất trung, bạc tình, thì không thể là người có hiếu được. Ngược lại, một người có hiếu không thể là một người bất trung, bất nghĩa hay bạc tình. Vậy, muốn xây dựng một cộng đồng xã hội tốt đẹp thì phải xây dựng nền tảng căn bản từ gia đình. Mà muốn xây dựng gia đình thì phải đề cao sự hiếu thảo.
Vậy, trước khi bàn đến lòng hiếu thảo, chúng ta hãy đề cập một cách khái quát tình vợ chồng, tình anh em và bè bạn, nghĩa thầy trò và lòng nhân ái đối với đồng bào, đồng chủng. Cách trình bày, thiết tưởng không gì bằng nhắc lại những tấm gương trung hiếu, tiết nghĩa đã được sách sử cổ kim nhắc đến nhiều nhất, những câu chuyện đã trở thành ngàn thu bất diệt.
1. Tình nghĩa vợ chồng
Trước hết chúng ta hãy xét đến tình nghĩa vợ chồng, nhất là tình cảm cao quý của người vợ đối với chồng mà trong sách sử đã ghi chép rất nhiều. Ở đây chúng tôi chỉ đơn cử điển hình một vài mẩu chuyện được xem là đặc biệt nhât. Trước hết là câu chuyện bà Trần Thị Tồn, vợ của danh sĩ Bùi Hữu Nghĩa, vượt gian lao để minh oan cho chồng.
Bùi Hữu Nghĩa người Cần Thơ, có học vấn xuất chúng, thi đậu Thủ khoa, nên người đương thời thường gọi là Thủ khoa Nghĩa, vì tính tình cương trực nên bị bọn gian thần đời Tự Đức tìm cách hãm hại, ghép ông vào tội, bãi chức, rồi bắt giam. Người vợ ông là Trần Thị Tồn đảm lược, tính tình quyết đoán, hay tin chồng bị hàm oan, bà bèn giả trai đi ghe bầu ra tận kinh đô, vào ngay tòa Tam pháp nổi trông để minh oan cho chồng. Nhờ vậy triều đình mới cứu xét, tha ông khỏi tội. Trên đường trở về, bà lâm bệnh nặng, bỏ mình nơi đất khách, nhờ quan sở tại nghĩ tình ông, cho chôn cất tử tế. Khi ông ra đến nơi thì bà đã hóa ra người thiên cổ. Ông bèn làm văn điếu như sau:
“Nơi kinh quốc mấy hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng; Chốn tĩnh đường một tiếng hét vang, hẳn hoi lẽ chính lời nghiêm, lũ bằng đảng tai nghe đều mất vía.
- Tớ nghèo mình lo giúp, tớ oan mình lo kêu, chòm xóm đều khen mình đáng vợ;
Mình đau tớ không nuôi, mình chết tớ chẳng táng, non sông gièm siểm tớ làm chồng.
- Đất chẳng phải chồng bao nỡ thịt xương đem gởi đất; Trời như có vợ lúc này gan ruột biết chăng trời?
(Thành ngữ điển tích, Khai Trí xb. 1961, tr. 50)
Trường hợp thứ hai là bà Phạn Thị Thuấn. Bà là vợ lẽ ông Ngô Cảnh Hoàn đời Hậu Lê. Ông đi đánh giặc, tử trận ở sông Thúy Ái. Mọi người trong gia tộc đều than khóc, riêng bà vẫn tỏ ra như thường, cho rằng chết vì nước thì còn gì cao quý hơn. Bà đợi làm đám ma xong, bèn mặc quần hồng áo lục, đi đến dòng sông Thúy Ái trầm mình mà chết theo chồng. (Thành ngữ điển tích, tr. 303). Vì thế sau này Thi sĩ Tản Đà có mấy câu thơ thương tiếc: “Châu Nam Hải thuyền chìm sông Thúy Ái. Bến Tiền đường cỏ áy bóng Ô giang. Gam ngàn xưa ai tài hoa, ai tiết biệt, ai đài trang. Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ”.
Một trường hợp nữa là vợ chàng Trương. Bà tên Võ Thị Thiết, vì chồng họ Trương nên gọi là vợ chàng Trương. Chồng bà phải đi lính thú, bà ở nhà nuôi con dại một mình. Tối tối ru con ngủ, đứa bé hỏi cha đâu, thì bà chỉ cái bóng mình trên vách nói đó là cha. Đến chừng chàng Trương trở về, lúc bồng con nựng, nói mình là cha, thì đứa trẻ bảo không phải, và nói cha nó tốì mới đến, mẹ nó ngồi thì ngồi, mà mẹ nó đi thì đi theo. Chàng Trương nghi vợ ở nhà có ngoại tình, nên xỉ vả vợ đến điều bà chẳng biết làm sao tỏ nỗi oan ức của mình, bèn nhảy xuống sông tự vận. Khi đêm đến, đốt đèn lên, đứa trẻ chỉ cái bóng trên vách nói với chàng Trương: “Đó mới thật là cha con”. Bấy giờ chàng Trương mới rõ nguồn cơn, nhưng đã quá muộn, bèn ra mé sông chỗ vợ trầm mình, lập đàn chay giải oan cho vợ. Sau này Vua Lê Thánh Tôn đi ngang qua đó thấy ngôi miếu mà dân chúng lập để thờ bà, hỏi rõ sự tích, rất xót thương người đàn bà tiết nghĩa, nên làm bài vịnh Miếu bà Trương:
Nghi ngút đầu gành tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng giám có đôi vầng nhật nguyệt.
Giải oan Ghi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy.
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
(Thành ngữ điển tích. 429)
Chúng ta hãy nghe tiếp câu chuyện của Tào Lịnh Nữ. Nàng là con gái của Thái thú Tiểu quận Hạ Hầu Văn Ninh, và là vợ của Tào Văn Thúc. Văn Thúc mất sớm, Lịnh Nữ mãn tang, còn trẻ mà không con, sợ cha mẹ ép tái giá, mới hớt cụt tóc đặng tỏ ý mình muốn ở vậy cho trọn nghĩa, trọn tình. Nhưng cha mẹ vẫn ép nàng tái giá. Nàng bèn lấy dao cắt hai tai, rồi qua ở với anh họ của chồng, là Tào Sảng. Sau dòng họ Tào bị Tư Mã Ý giết hết, chú nàng làm đơn xin hủy hôn thú, rồi bắt nàng đem về Lương Châu định đem gả cho người khác. Nàng liệu thế từ không được, bèn lấy dao cắt đứt mũi. Bà con thấy vậy mới hỏi: “Bên nhà chồng đã chết hết không còn người nào, nàng thủ tiết thờ ai mà phải làm nhiều điều khổ thán như vậy?”. Nàng đáp: “Tôi từng nghe, người có lòng nghĩa không vì còn mất mà thay lòng. Xưa kia họ Tào còn mạnh, ai ai cũng muôn giữ cho trọn niềm trung mà hưởng giàu sang. Nay họ Tào nghiêng ngửa suy sụp, ta há nỡ phụ rẫy theo thói đen bạc của thường tình sao?”. Qua tấm lòng nghĩa liệt cao đẹp của nàng, mọi người bèn thôi, không nói đến việc tái giá nữa.
(Thành ngữ điển tích. 342)
Bây giờ đến câu chuyện người vợ lẽ bị đòn:
Xưa có người đi làm quan xa, vợ cả ở nhà có ngoại tình. Khi hay tin chồng sắp về, đứa gian phu lấy làm lo, đứa gian phụ bèn bảo: “Không việc gì mà sợ, tôi đã làm sẵn thứ thuốc độc để đãi nó đây rồi”. Hai hôm sau chồng về tới nhà, đang lúc chuyện trò vui vẻ, người vợ cả sai người thiếp rót chén rượu dâng cho chồng, bảo phải mời uống cho được. Người thiếp biết rõ chén rượu ấy có thuốc độc, nghĩ trong bụng: “Ta mà dâng chén rượu này thì ta là người giết chồng, còn nếu ta nói ra, thì vợ cả sẽ oán ghét ta”. Bèn giả cách té ngã làm cho chén rượu đổ xuống đất. Chồng thấy vậy giận lắm, đánh người thiếp mấy chục roi.
Than ôi! Người thiếp này làm đổ chén rượu, phần thì cứu chồng được sống, phần thì làm cho vợ cả khỏi tội. Riêng mình phải chịu hàm oan, còn nghĩa cử nào cao đẹp hơn nữa!
(Chiến Quốc Sách, Cổ Học Tinh Hoa II. 33')
Sau đây là câu chuyện khoét mắt của người tiết phụ.
Lư phu nhân, vợ ông Phòng Huyền Linh là người tuyệt đẹp và có đức hạnh. Phòng Huyền Linh thuở còn hàn vi, một hôm ốm nặng tưởng sắp chết, ông gọi Lư Thị đến bảo: “Tôi bệnh nguy quá, không chắc sống được, nàng tuổi còn trẻ không nên ở vậy, liệu mà ăn ở cho tử tế với người chồng sau”. Lư Thị nghe nói nức nở khóc, rồi vào trong màn khoét một mắt bỏ đi, có ý tỏ cho chồng biết rằng dù chồng có bất hạnh mà chết, cũng quyết chí ở vậy không lấy ai nữa. Sau đó ông thi đỗ làm quan đến Tể tướng. Ông một niềm yêu kính Lư Thị không hề lấy người thiếp nào khác nữa.
(Lư Phu nhân truyện. C.H.T.H. II36)
Hành động quả cảm của Lư Thị thật đáng kính phục, chúng ta còn kính phục hơn nữa lòng thủ tiết thờ chồng và mượn cái chết kết liễu đời mình cho trọn tình trọn nghĩa của một người thiếu phụ sau đây:
Hoàng phi Nguyễn Thị Kim, vợ Vua Chiêu Thống, người làng Tùy Hà, huyện Lang Tài, Bắc phần. Khi Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, bà theo không kịp, phải ẩn núp ở đất Kinh Bắc. Mãi hơn 13 năm sau, lúc hay tin bọn di thần sắp đem linh cữu của chồng và mẹ chồng về nước, bà lên tận quan ải để đón rước. Từ đó cho đến khi về Thăng Long bà nhịn ăn, cả ngày gục bên linh cữu cố quân gào khóc rất thảm thiết. Ngày 12 tháng chạp năm Nhâm Tuất (1802), làm lễ tế Vua Lê xong, bà bảo người xung quanh: “Ta nhẫn nhục ở nơi quê nhà ngót mười mấy năm trời, một lòng mong đợi tin Thái hậu, cùng vua ta và con ta. Nay Thái hậu và vua đã mất, con ta cũng đã chết, linh giá đã đưa về nước, thế là lòng hy vọng của ta cũng mất. Giờ đây ta nên chết theo để xuống sao hầu hạ ở Sơn Lăng”. Nói rồi bà uống thuốc độc quyên sinh.
Những tấm gương liệt phụ trên đây thật đáng để cho thiên hạ ca tụng, nó có một giá trị cao quý mà mỗi lần nhắc đến đều khiến ai nấy cảm động xót thương. Người ta càng trân quý những tâm tình cao đẹp trên đây bao nhiêu, thì lại càng chê trách và chán ghét những người đàn bà bạc tình bạc nghĩa bấy nhiêu. Nhìn lại cổ kim, những gương bạc tình cũng không phải là ít. Chúng ta hãy thử nhắc lại một vài mẩu chuyện phản diện này hầu làm tôn vinh thêm những tâm gương chính diện. Trước hết là câu chuyện của người vợ Mãi Thần (theo Thông Chí).
Mãi Thần họ Chu, người đất Ngô, đời Hán, tự Ông Tử, rất ham học, không có sản nghiệp gì, phải đi kiếm củi bán để nuôi thân. Ông vừa gánh củi vừa học. Cô vợ gánh củi đi theo sau, lấy làm xâu hổ, xin bỏ đi lấy chồng khác. Ông cười bảo: “Ta đến 50 tuổi mới giàu sang được, nay đã hơn 40 rồi, nàng chịu khổ đã lâu, nay hãy gắng đợi ta giàu sang, ta sẽ báo đáp công lao cho”. Vợ giận dữ nói: “Như cung cách của ông thì chỉ có chết đói ở cống rãnh mất thôi, lại dám mong giàu sang!”. Mãi Thần đành phải để cho vợ đi lấy chồng khác. Từ đó Mãi Thần một thân một mình đi gánh củi, vừa đi vừa học như trước, về sau, ông được người làng là Nghiêm Trợ tiến cử. Nhà vua cho Mãi Thần vào yết kiến. Sau khi nói chuyện, thấy ông có kiến thức uyên bác bèn phong ông làm Trung đại phu, rồi sau cho giữ chức Thái thú đất Cối Kê. Khi đến Cối Kê nhậm chức, xe ngựa hơn trăm cỗ vào đất Ngô, ông thấy người vợ cũ cùng chồng đang gánh đất sửa đường. Ông cho dừng xe lại, bảo mời hai vợ chồng lên xe sau đưa về dinh Thái thú, cho ở một nơi và cấp lương ăn tử tế.
(Tiền Hán Liệt truyện - Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tr. 199)
Lòng dạ bạc bẽo, tham phú phụ bần của cô vợ Mãi Thần thực là đáo để, khiến ai nghe thấy cũng phải khinh bỉ. Người ta càng khinh bỉ cô vợ bạc tình ấy bao nhiêu, thì lại càng kính phục lòng bao dung cao thượng của Chu Mãi Thần bấy nhiêu.
Những người đàn bà bạc tình xưa nay không phải chỉ có một, và câu chuyện sau đây là trường hợp thứ hai.
Tương truyền Trang Tử một ngày kia đi dạo chơi, thấy một thiếu phụ đang cầm quạt, quạt một nấm mồ. Ông hỏi thì người thiếu phụ đó nói là mộ của chồng nàng. Khi chồng chết có dặn nàng là đợi khi nào nấm mồ khô, có cỏ mọc mới đi lấy chồng khác, nên nay nàng quạt cho mau khô, cỏ mọc đặng đi lấy chồng khác. Trang Chu xin quạt giúp cho nàng, chỉ trong chốc lát nấm mồ khô và cỏ bắt đầu mọc. Người thiếu phụ ấy rất cám ơn Trang Tử, liền biếu cho ông chiếc quạt. Lúc trở về nhà ông bèn thuật lại chuyện ấy cho vợ nghe, thì người vợ nguyền rủa người đàn bà bạc tình kia không tiếc lời.
Trang Tử có pháp thuật bèn giả chết để thử vợ. Trước khi chết có dặn vợ quàn quan tài ba tháng mười ngày rồi sẽ chôn. Chẳng bao lâu vợ Trang Tử phải lòng một chàng trai trẻ. Một hôm chàng ấy bị chứng đau bụng và cần có óc của người mới chết mới cứu được. Vợ Trang Tử bèn cầm búa đến bửa quan tài chồng định lấy óc để cứu tình nhân, thì Trang Tử lồm cồm ngồi dậy. Cô vợ trông thấy chết điếng cả người. Trang Tử bèn gõ bồn ca:
Kham ta phù thế sự,
Hữu như hoa khai tạ.
Thê tử ngã tất mai,
Ngã tử thê tất giá.
Ngã nhược tiên tử thì,
Nhất trường đại tiếu thoại.
Điền bị tha nhân canh,
Mã bị tha nhân khóa.
Thê bị tha nhân giá,
Tử bị tha nhân mạ.
Suy thử đổng thường tình,
Tương khan lụy bất hạ.
Thế nhân tiếu ngã bất bi thương,
Ngã tiếu thế nhân không đoạn trường.
Thế sự nhược hoàn khốc đắc chuyển,
Ngã diệc thiên thu lụy vạn hàng”.
(Than ôi kìa thế sự!
Đường hoa đơm lại rã.
Vợ chết ắt ta chôn,
Ta chết vợ cải giá.
Ví bằng ta chết trước,
Một cuộc cười ha hả.
Ruộng phải người khác cày,
Ngựa mắc tay cưỡi lạ.
Vợ để lại người xài,
Con bị người rủa xả.
Nghĩ lại chạnh tấm lòng,
Nhìn nhau không lã chã.
Đời cười ta chẳng biết bi thương Ta
Cũng cười đời luông đoạn trường
Cuộc đời khóc mà vãn hồi được,
Ta cũng nghìn thu khóc muôn hàng.
(Thành ngữ điển tích. 398)
Qua đoạn trên đây chúng ta đã thấy những mối tương giao giữa vợ chồng những mảnh gương đẹp cũng như những cái không đẹp. Giờ đây có thể bàn đến tình nghĩa thầy trò, tình của những người thừa hành đối với cấp lãnh đạo.
2. Tình đồng bào đồng chủng
a) Tình thầy trò, chủ tớ
Bàn đến tình đồng bào đồng chủng, trước hết chúng ta hãy xét đến tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa của người con dân đối với lãnh tụ. Những tấm gương trung nghĩa xưa nay khá nhiều, chúng ta không làm sao kể hết, ở đây chỉ nêu lên gương báo thù cho chủ của Dự Nhượng:
Rồi Dự Nhượng đổi họ, đổi tên, giả làm tù nhân, vào cung của Tương Tử sửa nhà xí, giắt sẵn cây chùy thủ, cốt để giết Tương Tử. Tương Tử đi tiêu, chột dạ, bắt hỏi tên tù sửa nhà xí, thì ra là Dự Nhượng, khám trong người thấy có giắt khí giới. Dự Nhượng khai: Muốn vì Trí Bá báo thù. Quân tả hữu của Tương Tử muốn giết, Tương Tử bảo:
- Hắn là người nghĩa khí. Ta nên coi chừng mà tránh hắn thôi. Vả lại Trí Bá chết đi không có con, mà hắn là bầy tôi muốn báo thù cho chủ, thì hắn là một người hiền trong thiên hạ.
Nói rồi thả cho Dự Nhượng đi.
Ít lâu sau, Dự Nhượng bôi sơn vào mình cho sưng loét như người bị hủi, nuốt than cho mất tiếng để khỏi ai nhận ra hình tích mình, ăn mày ở chợ mà vợ không nhận ra. Gặp bạn nhận được, hỏi:
- Anh không phải là Dự Nhượng à?
Đáp: “Đúng là tôi!”. Người bạn khóc, nói:
- Có tài như anh, kiếm cách mua chuộc về thờ Tương Tử, tất được Tương Tử thân yêu. Được thân yêu gần gũi, bây giờ thực hành ý muôn há chẳng dễ ư? Việc gì mà hủy hoại thân thể để mong trả thù Tương Tử, như thế chẳng khó sao?
Dự Nhượng nói:
- Đã đem thân về thờ người ta mà lại chực giết người ta, như thế là thờ chủ mà nhị tâm. Công việc tôi làm đây quả thật vô cùng khó, nhưng sở dĩ phải làm như vậy là để cho thiên hạ đời sau kẻ nào làm tôi mà thờ chủ không trung thành coi đây mà thẹn.
Dự Nhượng bèn đến núp dưới một cây cầu. Tương Tử qua đấy, thì con ngựa hoảng sợ. Tương Tử nói: “Chắc lại Dự Nhượng!”. Sai người hỏi thì đúng là Dự Nhượng thật. Tương Tử bèn trách Dự Nhượng:
- Nhà ngươi chả đã từng thờ họ Phạm và họ Trung Hàng đây ư? Trí Bá diệt hết bọn họ mà sao nhà ngươi chẳng báo thù cho họ, lại còn vác xác làm tôi Trí Bá. Trí Bá cũng chết tiêu rồi mà sao nhà ngươi riêng nặng lòng báo thù cho Trí Bá như vậy?
Dự Nhượng đáp:
- Tôi thờ họ Phạm và họ Trung Hàng, họ Phạm và họ Trung Hàng đều coi tôi như một người thường, cho nên tôi cũng báo đáp họ như một người thường. Còn Trí Bá đãi tôi như một trang quốc sĩ, cho nên tôi cũng lấy tư cách một trang quốc sĩ mà báo đáp ông ta.
Việc tôi làm hôm nay, tôi vẫn biết thế nào rồi cũng bị giết, nhưng tôi muốn xin nhà vua cái áo, cho tôi được đâm vào đó để tỏ bày cái ý muốn báo thù, thì dù có chết tôi cũng không còn ân hận.
Tương Tử rất cảm động vì lời nói nghĩa khí đó, sai kẻ tùy tùng đưa áo cho Dự Nhượng. Dự Nhượng tuốt gươm 3 lần nhảy đâm chiếc áo nói:
- Ta có thể báo đáp Trí Bá ở nơi chín suối rồi.
Rồi kề gươm vào cổ mà tự vẫn.
Hôm Dự Nhượng chết, các trang chí sĩ nước Triệu được tin đều sa lệ.
(Sử ký Tư Mã Thiên. 520).
Gương Dự Nhượng báo thù cho chủ còn lưu truyền mãi đến nghìn thu. Đó là câu chuyện bầy tôi trung với chủ. Và sau đây chúng ta hãy nghe những người học trò tưởng nhớ thầy, khi thầy tạ thế. Các học trò đã nhắc lại công lao xây dựng đạo pháp của thầy bằng câu đối sau đây:
“Rừng mai đạp tuyết, cay đắng bao phen, duyên hóa độ còn nhiều, tằm nhả tơ lòng thêu sử Phật.
Vườn trúc trổ hoa, nắng mưa hơn nửa kiếp, tình tương tri quá nặng, sương rơi hạt lệ gọi hồn thiêng”.
Trên đây là sự tiếc thương của đám môn sinh, tưởng nhớ một bậc thầy đã dày công với đạo pháp, và sau đây là nỗi tiếc thương một bậc thầy và cũng là một lãnh tụ trong cơn quốc gia nguy biến.
“Sống thác lòng như vàng đá, bước phong trần cùng một nỗi truân chuyên, sóng cả vững tay chèo, mù mịt trời Nam, việc lớn lo toan may có trụ.
Thầy trò nghĩa sánh cha con, thề non nước gây nên tình cốt nhục, xe tiên về cõi Phật, bơ vơ bạn trẻ, đường dài lãnh đạo biết nhờ ai!”.
(Chơi chữ, Lãng Nhân. 24)
Tiểu đồng vội vã bước vào,
Xóm làng mới hỏi: Thằng nào tới đây?
Đồng rằng: Tớ tới kiếm thầy,
Chẳng hay người thác mả này là ai?
Người rằng: Một gã con trai,
Ớ đâu không biết lạc loài đến đây.
Chân tay mặt mũi tốt thay,
Đau chi nên nỗi nước này khá thương.
Tiểu đồng chẳng kịp hỏi han,
Nằm lăn bên mả khóc than một hồi.
Người đều xem thấy thương ôi,
Kêu nhau vác cuốc đều lui ra đàng.
Tiểu đồng nằm giữa rừng hoang,
Che chòi giữ mả lòng toan trọn bề.
Một mình ở đất Đại Đề,
Sớm đi khuyên giáo tối về quải đơm.
Dốc lòng trả nợ áo cơm,
Sống mà trọn nghĩa thác thơm danh hiền”.
(Lục Vân Tiên. 913 - 930).
Tiểu đồng theo hầu Lục Vân Tiên trên con đường lai kinh ứng thí. Trên đường ra kinh thành, vừa tới nơi, Vân Tiên bỗng được tin mẹ từ trần, chàng bèn bỏ thi trở về chịu tang mẹ. Trên đường trở về, phần vì đường sá xa xôi cực nhọc, phần vì nỗi xót thương mẹ, nên Vân Tiên bị bệnh phải mù lòa. Không may lại gặp Trịnh Hâm là người bạn phản trắc, bắt tiểu đồng đem cột vào một gốc cây trong rừng cho cọp ăn. Tiểu đồng được ông tiều cứu thoát, trở lại chỗ cũ để tìm Lục Vân Tiên, thì được dân chúng cho biết có một chàng trai trẻ vừa chết mà không có thân nhân lo việc chôn cất, nên dân chúng đã động lòng trắc ẩn, xúm nhau đem xác chôn bên mé rừng. Tiểu đồng vốn tính chất phác, không hỏi trước sau cho kỹ, đinh ninh đó là nấm mồ của Lục Vân Tiên, nên cất nhà bên mả Vân Tiên, ngày ngày đi xin thức ăn của những người hảo tâm đem về cúng quải Lục Vân Tiên. Và ở đó giữ mồ trong suốt cả 3 năm cho trọn nghĩa trọn tình.
Lòng trung thành đối với chủ của tiểu đồng thật là có một không hai, dẫu rằng trong thực tế không mấy ai làm được. Nhưng đó là cái nghĩa cử đẹp để người đời ngưỡng vọng. Và sau đây là câu chuyện của bậc hiền sĩ mua nghĩa cho ân nhân:
Khi đến đất Tiết, Phùng Huyên cho gọi dân lại, bảo rằng: “Các ngươi công nợ bao nhiêu, Thường Quân đều cho cả”. Rồi đem văn tự ra đốt sạch.
Lúc về, Phùng Huyên thưa với Mạnh Thường Quân rằng: “Nhà Tướng công châu báu đầy nhà, không còn thiếu gì nữa. Chỉ còn thiếu việc nghĩa, tôi mạn phép vì Tướng công đã mua về”.
Mạnh Thường Quân nghe nói thế cũng không hỏi gì đến tiền nữa.
Sau Mạnh Thường Quân bị mất chức, gia đình suy sụp, phải trở về đất Tiết, dân đất Tiết nhớ đến ân xưa, ra đón rước đầy đường. Mạnh Thường Quân bấy giờ mới ngoảnh lại bảo Phùng Huyên rằng: “Trước kia tiên sinh vì tôi mua Nghĩa, Nghĩa ấy ngày nay tôi mới trông thấy”.
(Chiến quốc sách - C.H.T.H I. 161)
Giờ đây chúng ta xét đến tình bè bạn.
b) Tình bè bạn
Mỗi khi nhắc đến tình bằng hữu, có lẽ không một người Việt Nam nào quên được tình bạn cao đẹp của Lưu Bình - Dương Lễ. Dương Lễ vì thương bạn đã cho người thiếp của mình là nàng Lục Châu theo hầu hạ giúp đỡ, và nuôi Lưu Bình ăn học cho đến ngày thi đỗ, công thành danh toại. Và một đôi bạn tri kỷ nữa được ngàn thu nhắc nhở, đó là tình bạn giữa Quản Trọng và Bảo Thúc Nha.
Bảo Thúc chết, Quản Trọng thương tiếc, khóc như mưa, ướt đầm cả vạt áo.
Có người hỏi: “Ông với Bảo Thúc không phải là họ hàng thân thích gì, mà sao ông thương khóc quá như vậy?”.
Quản Trọng nói: “Ta lúc nhỏ khốn khổ, thường buôn chung với Bảo Thúc, lúc chia lãi bao giờ ta cũng lấy phần hơn, mà Bảo Thúc không cho ta là tham, biết ta gặp cảnh quẫn bách, bất đắc dĩ ta phải làm thế. Ta ở chỗ chợ búa, thường bị lắm kẻ dọa nạt, Bảo Thúc không cho ta là nhát, biết ta có lượng bao dung. Ta bàn việc với Bảo Thúc, nhiều khi việc hỏng, Bảo Thúc không cho ta là ngu, biết có lúc may lúc không may, nên công việc có thành có bại. Ta ba lần ra làm quan, ba lần bị bãi, Bảo Thúc không cho ta là bất tiếu, biết ta chưa gặp thời. Ta ra trận 3 lần đánh thua cả 3, Bảo Thúc không cho ta là bất tài, biết ta còn có mẹ già phải phụng dưỡng. Ta nhẫn nhục thờ vua Hoàn Công, Bảo Thúc không cho ta là vô sỉ, biết ta không để ý đến tiểu tiết, có chí làm lợi ích cho cả thiên hạ... Sinh ra ta là cha mẹ, biết ta là Bảo Thúc Nha, mà đối với người biết mình, mình đem cả tính mệnh ra dâng hiến còn chưa cho là quá, huống chi thương khóc thế này có nghĩa lý gì đâu!”.
(C.H.T.H. I. 67)
Quân Trọng và Bảo Thúc là đôi bạn tri kỷ rất lý tưởng. Tình bạn này đã trở thành mẫu mực mà muôn ngàn đời sau còn ca ngợi thán phục.
Sau khi rảo qua tình bạn, bây giờ chúng ta hãy bàn đến tình anh em. Và dưới đây là câu chuyện khéo cư xử giữa hai anh em ruột:
c) Tinh anh chị em
Ngưu Hoằng, Ngưu Bật, hai anh em ở chung với nhau. Bật có tính hay chè chén, mà hễ chén vào thì thường nát rượu. Một hôm anh đi vắng, Bật ở nhà uống say túy lúy, bắn chết mất con trâu của anh. Kịp đến lúc anh về, người vợ đón cửa xăm xăm bảo: “Này này! Chú nó ở nhà bắn chết trâu rồi!”.
Hoằng nói: “Trâu chết thì bảo đem làm thịt”.
Hoằng vào nhà, ngồi vừa yên, vợ lại chạy đến hăm hở nói:
- Chú nó bắn chết trâu là việc to lắm chứ có phải việc thường đâu...
Hoằng nét mặt vẫn hòa nhã tự nhiên nói:
- Phải, tôi đã biết rồi mà. Rồi lấy sách vở ra xem như không có chuyện gì xảy ra cả.
Vợ thấy thế nguôi cơn giận, không dám nói gì nữa.
(Tùy Ký. C.H.T.H. II. 23)
Thái độ của Ngưu Hoằng vừa bình tĩnh vừa khéo léo để trấn an những sự va chạm, đổ vỡ trong gia đình giữa chị dâu và em chồng thật là tài tình.
Trong Sử ký, chúng ta lại thấy chuyện của người chị Tráng sĩ Nhiếp Chính, nàng dám đem cái chết để làm sáng tỏ lòng nghĩa khí của em mình, thật là một hành động nghĩa liệt:
Nhiếp Chính người đời Hán, nuôi mẹ rất có hiếu. Một hôm Nghiêm Trọng Tử đem 10 dật vàng đến biếu mẹ ông, ông từ chối không nhận, nói: “Tôi may có mẹ già, nhà nghèo, ở nơi đất khách, nhưng nhờ có nghề nghiệp cũng kiếm được đủ miếng ngon để hôm mai cung dưỡng mẹ. Cung dưỡng mẹ đã đủ không dám nhận của Trọng Tử cho”.
Sau khi mẹ mất, vì cảm cái nghĩa tri kỷ của Trọng Tử, một thân một mình đi đến nước Hàn giết Tướng quốc nước Hàn là Hiệp Lũy để trả thù cho Trọng Tử. Giết xong bèn tự lột da mặt rồi tự sát.
Người nước Hàn đem thây Nhiếp Chính bêu ngoài chợ, bỏ tiền mua tin mà cũng chẳng biết cái thây ma kia là thấy ai. Nước Hàn bèn treo giải thưởng: “Ai biết kẻ giết quan Tướng quốc là ai thì sẽ được tặng ngàn vàng”. Mãi vẫn không ai biết. Chị Nhiếp Chính, cô Vinh, nghe nói có kẻ hành thích Tướng quốc nước Hàn mà lý lịch kẻ thích khách chưa được xác nhận. Cô nói với người trong ấp rằng: “Có lẽ đúng em tôi rồi!”.
Lập tức cô tới chợ nước Hàn, thì ra người chết kia đúng là Nhiếp Chính thật. Cô ôm thây khóc cực thảm thiết, nói: “Đây là người tên gọi Nhiếp Chính ở làng Thâm Tĩnh, ấp Chỉ.”.
Những người qua chợ đều bảo: “Con người ấy bạo ngược đã giết quan Tướng quốc nước ta, nhà
vua treo giải thưởng ngàn vàng, tặng ai biết tên họ hắn, cô không nghe nói sao? Tại sao cô dám tới nhận xác?”.
Cô Vinh đáp:
- Có nghe nói chứ, nhưng biết làm thế nào? Chính nó đã hy sinh vì tri kỷ, nhưng sở dĩ Chính nó chịu khổ nhục, sống buông xuôi nơi chợ búa, là vì nó còn có mẹ già, và vì tiện thiếp này chưa xuất giá. Nay mẹ chúng tôi đã hưởng trọn tuổi trời và tiện thiếp này đã xuất giá, Nghiêm Trọng Tử lại lựa đúng em tôi trong cảnh khôn cùng mà kết giao, ân tình nặng lắm, thế thì còn làm thế nào? Nhưng chỉ vì tiện thiếp tôi còn sống, cho nên Chính đã tự hủy mình để khỏi lộ tung tích, (tránh cho tiện thiếp tôi khỏi liên lụy), lẽ nào tiện thiếp tôi lại sợ bị giết mà làm mai một danh tính của em.
Cô Vinh làm cho cả chợ nước Hàn kinh ngạc. Cô kêu trời 3 tiếng to rồi khóc thảm thiết mà chết bên xác em. Nước Tấn, nước Sở, nước Tề, nước Vệ nghe tin đều nói:
- Không phải riêng mình Nhiếp Chính giỏi mà người chị Chính cũng là một trang liệt nữ.
(Sử ký Tư Mã Thiên)
Chúng ta hãy nghe tiếp câu chuyện bỏ con ruột, dắt con của người em chạy giặc sau đây:
Đặng Du tên tự là Bá Đạo, người đất Tương Lăng đời Tân. Khi ông giữ chức Thái thú đất Hà Đông, một năm có biến, ông phải đưa cả vợ con và đứa cháu (con người em đã chết gửi lại ông nuôi) chạy trốn. Giữa đường gặp bọn cướp lấy hết cả xe ngựa, vợ chồng phải đi bộ, thay nhau gánh vác những thứ còn lại, kể cả con và đứa cháu. Khi gánh chạy sang sông, ông liệu không thể nào bảo toàn cả con lẫn cháu, mới nói với vợ rằng: “Em ta chết sớm chỉ có một đứa con, lý không thể để tuyệt tự, ta phải bỏ con lại, may mà còn sống, chúng ta còn có thể có con khác”. Vợ khóc mà nghe theo. Khi chạy đến đất Giang Đông, ông được cử làm Thái thú Ngô quận, ông làm quan nổi tiếng thanh liêm, một lòng lo việc chung nên rất được lòng dân. Ông từ khi bỏ con đem cháu chạy trốn, vợ không chửa đẻ gì nữa, cho đến lúc chết vẫn không có con nối dõi. Người đương thời có ý thương ông nên có câu rằng: “Thiên đạo vô tri sử Đặng Bá Đạo vô nhi” (Đạo trời không còn khiến Đặng Bá Đạo không con).
(Thông Chí. NĐCTT. I. 434)
Cứ xem câu chuyện Đặng Bá Đạo trên đây, hy sinh con mình mà giữ lấy đứa cháu thì biết người xưa quên mình để phụng sự cho đạo nghĩa đến bậc nào!
d) Tình đồng bào
Một câu chuyện vì nghĩa nên tình:
Một người thiếu phụ họ Trương ở nhà chồng về thăm cha mẹ. Có tên thị tì mang hộp đồ nữ trang theo hầu, chẳng may giữa đường đánh rơi, hồi lâu mới biết, trở lại tìm, thì thấy có người ăn mày đang ngồi giữ hộp ấy. Tên thị tì hoảng hốt hỏi, thì người ăn mày liền trao trả và nói rằng: “Tôi đã cùng khổ đến thế này mà lại còn cuỗm thêm những của vô cớ, thì mong khá sao được”.
Tên thị tì mừng lắm, lấy một chiếc thoa ra tạ. Người ăn mày cười nói: “Bao nhiêu của chẳng lấy, lại lấy một chiếc thoa ư!”.
Tên thị tì nói: “Tôi mà đánh mất cái hộp nữ trang này thì đến chết mất. May mà người được, người trả lại cho, thế là người cho tôi của, lại cứu cho tôi sống. Dù người không màng báo đáp, tôi cũng không dám quên ơn. Nhà tôi ở ngõ ... từ nay về sau, sớm trưa tôi xin đợi người đến cửa sẽ chia xẻ phần cơm của tôi để người ăn”.
Người ăn mày sau cứ làm như lời. Tên thị tì cũng cứ cho ăn mãi. Sau chủ nhà biết được ngờ có
ngoại tình, đem tra hỏi, tên thị tì phải thú thực đầu đuôi. Người chủ hiểu rõ sự tình, bèn gọi người ăn mày đến nhà nuôi, rồi gả thị tì cho. Sau 2 người thành một






