Từ điển Pháp số căn bản (Pháp số 10)

Pháp số 10

MƯỜI BA LA MẬT (thập ba la mật)

Mười ba la mật tức mười độ, hay mười pháp qua bờ, cũng gọi là mười thắng hạnh, tức là 10 đức thù thắng mà các hành giả Bồ-tát thừa phải có đầy đủ trước khi đạt được thành quả giác ngộ hoàn toàn. 10 thắng hạnh này gồm sáu pháp qua bờ, và thêm vào bốn pháp qua bờ nữa là phương tiện, nguyện, lực và trí, được phối hợp với tiến trình tu tập của hàng Bồ-tát cấp Mười-địa. Nói cách khác, mười ba la mật là mười thành quả mà hàng Bồ-tát ở cấp Mười-địa đạt được do công năng tu tập, theo thứ tự như sau:

1. Thí ba la mật: Gồm tài, pháp và vô úy thí; là thành quả của Bồ-tát bậc Sơ-địa (Hoan-hỉ-địa).

2. Giới ba la mật: Không hại sinh mạng, hành trì giới luật để thường tự tỉnh sát; là thành quả của bậc Nhị-địa (Li-cấu-địa);

3. Nhẫn ba la mật: Dứt hết giận hờn, không hủy nhục chúng sinh, nhẫn nhục trước mọi hoàn cảnh cần phải nhẫn; là thành quả của bậc Tam-địa (Phát-quang-địa);

4. Tinh tấn ba la mật: Tinh cần tu tập không phút nào xao lãng; là thành quả của bậc Tứ-địa (Diễm-tuệ-địa);

5. Thiền ba la mật: Thường giữ chánh niệm cho tâm an định; là thành quả của bậc Ngũ-địa (Nan-thắng-địa);

6. Bát nhã ba la mật: Trí tuệ thấy rõ thật tướng của các pháp, thấu suốt diệu lí bình đẳng; là thành quả của bậc Lục-địa (Hiện-tiền-địa);

7. Phương tiện ba la mật: Dùng mọi phương pháp để khai mở trí tuệ, hiểu rõ mọi cách thức giúp ích cho chúng sinh; là thành quả của bậc Thất-địa (Viễn-hành-địa);

8. Nguyện ba la mật: Thường giữ tâm nguyện cứu độ chúng sinh, nói pháp vi diệu, biện tài vô ngại; là thành quả của bậc Bát-địa (Bất-động-địa);

9. Lực ba la mật: Có năng lực phân biệt rõ chân ngụy, tu dưỡng các hạnh lành thực tiễn, giúp chúng sinh dứt bỏ tà kiến; là thành quả của bậc Cửu-địa (Thiện-tuệ-địa);

10. Trí ba la mật: Trí tuệ biết rõ tất cả các pháp, giữ vững trung đạo, không chán sinh tử, không ham niết bàn, có lòng xả rộng lớn; là thành quả của bậc Thập-địa (Pháp-vân-địa).

MƯỜI BẬC THÁNH (thập thánh)

10 bậc Bồ-tát ở cấp Mười-địa (từ Sơ-địa cho đến Thập-địa), được gọi là “10 bậc thánh”. (Xin xem mục “Mười Địa” ở dưới.)

MƯỜI DANH HIỆU (thập hiệu – Như Lai thập hiệu)

Mỗi đức Phật đều có danh hiệu riêng, có ý nghĩa riêng, gọi là biệt hiệu. Ngoài biệt hiệu đó ra, tất cả chư Phật cùng có đầy đủ mười tôn hiệu chung, xin nêu tên và ý nghĩa như sau:

1. Như Lai: “Như” nghĩa là đạo như thật, tức là tất cả pháp tánh. Pháp thân của Phật từ nơi đạo như thật mà đến, cho nên Phật có tôn hiệu là “Như Lai”.

2. Ứng Cúng: Phật đã đoạn trừ trọn vẹn ba loại hoặc, vĩnh viễn thoát khỏi hai loại sinh tử, muôn đức tôn nghiêm, phước tuệ đầy đủ, xứng đáng với sự cúng dường của khắp chín cõi, – mà người cúng dường lại còn được phước, cho nên Phật có tôn hiệu là “Ứng Cúng”.

3. Chánh Biến Tri: Ngoại đạo chấp trước vào hai cái thấy đoạn diệt và thường hằng, sự hiểu biết của họ chỉ là tà vạy chứ không chính đáng; hàng nhị thừa thì đam trước vào “không”; hàng Bồ-tát thì chưa đạt đến tận cùng nguồn gốc. Các hạng trên tuy có thấy biết nhưng không biến khắp, chỉ có cây đưốc trí tuệ của Phật mới chiếu soi tất cả các pháp, không những chân chánh mà còn biến khắp, cho nên Phật có tôn hiệu là “Chánh Biến Tri”.

4. Minh Hạnh Túc: “Minh” là ba minh, tức thiên nhãn minh, túc mạng minh, và lậu tận minh; “hạnh” là năm hạnh, tức thánh hạnh, phạm hạnh, thiên hạnh, anh nhi hạnh, và bệnh hạnh. Ba minh thuộc về tuệ, năm hạnh thuộc về phước. Phật có phước tuệ đầy đủ, cho nên có tôn hiệu là “Minh Hạnh Túc”.

5. Thiện Thệ: “Thiện” là tốt, “thệ” là đi. Phật tu tập theo con đường chân chánh để rồi vào cõi niết bàn; tức là Ngài đã hướng đến nơi tốt đẹp để đi tới, cho nên có tôn hiệu là “Thiện Thệ.”

6. Thế Gian Giải: Đức Phật hiểu rõ tất cả mọi tình huống của thế gian cũng như xuất thế gian, cho nên Ngài có tôn hiệu là “Thế Gian Giải”.

7. Vô Thượng Sĩ: Trong tất cả các pháp thì niết bàn là vô thượng; trong loài người thì Phật là vô thượng; trong các thành quả thì chánh giác là vô thượng; chúng sinh trong chín cõi đều không so sánh được với Phật, cho nên Ngài có tôn hiệu là “Vô Thượng Sĩ”.

8. Điều Ngự Trượng Phu: Phật là đấng đại trượng phu, có khả năng điều phục, chế ngự mọi ma chướng trong khi tu hành chánh đạo, cho nên Ngài có tôn hiệu là “Điều Ngự Trượng Phu”.

9. Thiên Nhân Sư: Phật là bậc đạo sư của cả trời và người, cho nên có tôn hiệu là “Thiên Nhân Sư”.

10. Phật Thế Tôn: Phật là bậc giác ngộ trọn vẹn, đầy đủ cả tự giác, giác tha, phước đức hoàn toàn, bậc tam thừa xuất thế gian và sáu loài phàm phu trong thế gian đều cùng tôn kính, cho nên có tôn hiệu là “Phật Thế Tôn”.

MƯỜI DÂY RÀNG BUỘC (thập triền)

“Ràng buộc” là không được tự do tự tại; ở đây có nghĩa là bị trói chặt, bị giam hãm trong ngục tù sinh tử, trong vòng kiềm tỏa của luân hồi, không được giải thoát. Sở dĩ như vậy là bởi do mười “dây” phiền não sau đây:

1. Lầm lỗi mà không biết tự xấu hổ (vô tàm)

2. Không biết tự thẹn khi thấy người khác có giới hạnh trong sạch hơn mình (vô quí)

3. Ganh ghét (tật)

4. Bỏn sẻn, keo kiệt (xan)

5. Tiếc rẻ (hối)

6. Ham ngủ (thụy miên)

7. Không an tĩnh (trạo cử)

8. Tối tăm, không tỉnh táo (hôn trầm)

9. Giận dữ, hung hãn (phẫn)

10. Che giấu lỗi lầm (phú)

MƯỜI ĐẠI NGUYỆN (thập đại nguyện)

Đây là 10 hạnh nguyện lớn của Bồ-tát Phổ Hiền:

1. Thường kính lễ chư Phật (lễ kính chư Phật).

2. Thường khen ngợi công đức viên mãn của các đức Như Lai (xưng tán Như Lai).

3. Thường thờ phụng và đem tâm cúng dường tối thượng để cúng dường chư Phật (quảng tu cúng dường).

4. Thường sám hối các nghiệp xấu mình đã tạo ra từ vô thỉ đến nay, và tinh cần giữ gìn giới luật (sám hối nghiệp chướng).

5. Thường tùy hỉ các công đức của chư Phật, Bồ-tát, thánh nhân, cho đến của tất cả các loài chúng sinh phàm phu trong sáu nẻo luân hồi (tùy hỉ công đức).

6. Thường thỉnh chư Phật, chư vị pháp sư thuyết pháp để cho Phật pháp tồn tại mãi ở thế gian (thỉnh chuyển pháp luân).

7. Thường thỉnh chư Phật, chư Bồ-tát thánh chúng không nhập niết bàn, thị hiện lâu dài ở thế gian để thuyết pháp cứu độ chúng sinh (thỉnh Phật trụ thế).

8. Vĩnh viễn nguyện theo Phật để tu học (thường tùy Phật học).

9. Thường tùy thuận mọi yêu cầu của chúng sinh trong mục đích hóa độ bình đẳng (hằng thuận chúng sinh).

10. Tất cả công đức có được do thực hành 9 hạnh nguyện trên, xin đem hồi hướng cho tất cả chúng sinh, để hoàn thành đại nguyện thành Phật (phổ giai hồi hướng).

10 hạnh nguyện trên đây vô cùng rộng lớn, được nói rõ trong phần chót (tức quyển 40) của kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm (cũng tức là bộ kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm) do pháp sư Bát Nhã dịch ra Hán văn vào thời đại nhà Đường.

MƯỜI ĐỊA (thập địa)

“Địa” ở đây là địa vị, là giai tầng tu chứng trên bậc thang giác ngộ. Mười địa là mười giai tầng tu chứng, có nhiều loại, hoặc được lập riêng cho hàng Thanh-văn (Thanh-văn thập địa), hoặc hàng Duyên-giác (Duyên-giác thập địa), hoặc hàng Bồ-tát (Bồ-tát thập địa), hay Phật thừa (Phật thập địa). Ngoài ra còn có mười địa được lập chung cho cả ba thừa (Thanh-văn, Duyên-giác và Bồ-tát – gọi là Tam-thừa cộng thông thập địa); ở đây xin đề cập đến hai loại căn bản nhất:

A. Mười Địa của Ba Cỗ Xe (tam thừa thập địa).

Theo Đại Trí Độ Luận và tông Thiên Thai của Trí Giả đại sư, đây là cái thang giác ngộ có 10 giai tầng tu chứng được lập chung cho ba cỗ xe (tam thừa) Thanh-văn, Duyên-giác và Bồ-tát:

1. Càn tuệ địa (trí tuệ khô cạn): Đây là địa vị của một hành giả khi mới phát tâm tu hành. Vì chưa được thấm nhuần dòng nước Phật pháp cho nên trí tuệ của hành giả hãy còn khô cạn.

2. Tánh địa (thấy tính): Ở địa vị này hành giả bắt đầu thấy được tính Phật nơi tự thân mình.

3. Bát nhẫn địa (an trú nơi tám sự quán ngộ): Chữ “nhẫn” nghĩa là chịu đựng; và chịu đựng ở đây có nghĩa là an trú vững chắc nơi thật tướng của vạn pháp mà lòng không bị giao động, chán nản. Ở địa vị này, hành giả luôn luôn vận dụng trí tuệ để quán chiếu (quán) thật tướng của vạn pháp và nhận chân (ngộ) được chân lí “Bốn Sự Thật”, lần lượt trải qua tám trình độ quán ngộ (bát nhẫn) như sau:

1) Quán ngộ về “khổ đế” ở cõi Dục.

2) Quán ngộ về “tập đế” ở cõi Dục.

3) Quán ngộ về “diệt đế” ở cõi Dục.

4) Quán ngộ về “đạo đế” ở cõi Dục.

5) Quán ngộ về “khổ đế” ở hai cõi Sắc và Vô-sắc.

6) Quán ngộ về “tập đế” ở hai cõi Sắc và Vô-sắc.

7) Quán ngộ về “diệt đế” ở hai cõi Sắc và Vô-sắc.

8) Quán ngộ về “đạo đế” ở hai cõi Sắc và Vô-sắc.

4. Kiến địa (thấy rõ chân lí: Hành giả đã chứng ngộ chân lí “Bốn Sự Thật” ở khắp ba cõi, tâm ý hoàn toàn tự do, không còn bị kiềm tỏa bởi các tà kiến, và bắt đầu được dự vào “dòng Thánh”, tức là Tu-đà-hoàn, quả vị thấp nhất trong bốn quả vị của cỗ xe Thanh-văn (Thanh văn thừa).

5. Bạc địa (gần kề): Ở địa vị này, hành giả tu tập và diệt trừ được phần lớn những phiền não căn bản của cõi Dục, tương đương với Tư-đà-hàm, quả vị thứ hai trong bốn quả vị của cỗ xe Thanh-văn. Với quả vị này, hành giả còn phải tái sinh vào cõi Dục một lần nữa để tiếp tục tu tập.

6. Li dục địa (rời khỏi cõi Dục): Ở địa vị này, hành giả tu tập và diệt trừ hoàn toàn các phiền não gốc rễ của cõi Dục, cho nên vĩnh viễn không còn tái sinh vào cõi Dục nữa, tương đương với A-na-hàm, quả vị thứ ba trong bốn quả vị của cỗ xe Thanh-văn.

7. Dĩ biện địa (đã hoàn tất): Ở địa vị này, hành giả tu tập và dứt sạch hoàn toàn phiền não của cả ba cõi, chứng được các phép mầu nhiệm, vượt thoát khỏi ba cõi, tương đương với A-la-hán, quả vị cao nhất của cỗ xe Thanh-văn.

8. Bích-chi Phật địa (Duyên-giác): Ở địa vị này hành giả dùng trí tuệ tự mình quán chiếu nguyên lí “mười hai nhân duyên” mà được giác ngộ và thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Phật Bích-chi hay Phật Độc-giác là quả vị chứng đắc của cỗ xe Duyên-giác (Duyên giác thừa).

9. Bồ-tát địa: Địa vị A-la-hán và Phật Bích-chi cũng đã là những địa vị giác ngộ, nhưng mới chỉ được phần tự lợi, nên chưa phải là giác ngộ trọn vẹn. Muốn đạt được quả vị giác ngộ trọn vẹn, cao tột thì hành giả phải phát tâm tu tập hạnh Bồ-tát. Pháp môn tu tập chính yếu của hành giả ở địa vị này là “sáu phép qua bờ” (lục độ), và hạnh nguyện chính yếu ở địa vị này là “độ sinh”.

10. Phật địa: Khi thành quả tối hậu của địa vị Bồ-tát (tự lợi và lợi tha, hay tự giác và giác tha) đã đạt được viên mãn thì hành giả chứng đắc địa vị cao quí tột bực của sự nghiệp giác ngộ là địa vị Phật-đà.

B. Mười Địa của Bồ Tát.

Riêng hàng Bồ-tát, trong quá trình tu tập từ khi phát tâm cho đến khi thành tựu hạnh nguyện Bồ-tát, hành giả phải lần lượt trải qua 7 cấp (gồm 52 giai vị), mà Mười-địa là cấp thứ 5 (sau 4 cấp Mười-tín, Mười-trụ, Mười-hạnh, và Mười-hồi-hướng), gồm có 10 giai vị (từ giai vị 41 đến 50) như sau:

1. Hoan-hỉ địa (tâm ý rất vui): Sau khi đã trải qua một thời gian dài tu tập, hành giả diệt trừ được bốn phiền não mang tính chất tà kiến (*), bắt đầu thấy được tính “không” của ngã và pháp, cởi bỏ được cái tâm niệm phàm phu để hòa nhập vào “Bồ-tát thân”; vì vậy mà có được niềm vui lớn.

2. Li-cấu địa (xa rời phiền não): Ở địa vị này, hành giả tu tập và gột sạch được những cấu nhiễm của phiền não, và có được giới hạnh thanh tịnh, giới đức viên mãn.

3. Phát-quang địa (trí tuệ phát sinh): Hành giả đạt được nhẫn nhục viên mãn, thoát khỏi mê vọng, ánh sáng trí tuệ của tự tính giác ngộ bắt đầu hiển lộ.

4. Diễm-tuệ địa (trí tuệ rực rỡ): Do sự tinh tấn tu tập mà trí tuệ giác ngộ, từ chỗ bắt đầu phát sinh ở Phát quang địa, đến đây đã trở nên rực rỡ, thù thắng.

5. Nan-thắng địa (đạt được một cách khó khăn): Từ Diễm tuệ địa tiến lên được đến đây quả là một hành trình vô cùng khó khăn. Hành giả phải thường xuyên tu tập thiền định để có được một định lực thâm hậu, thấu suốt được nguyên lí “hai sự thật” (nhị đế) (**), chứng được pháp thân thanh tịnh.

6. Hiện-tiền địa (chân như hiển hiện): Ở địa vị này, hành giả tiếp tục diệt trừ các căn bản phiền não vi tế và hoàn thành việc phát triển trí tuệ cao tột, hoàn tất công hạnh tu tập “sáu phép qua bờ” (lục độ), vượt khỏi các khái niệm phân biệt giữa có và không, nhiễm và tịnh v.v..., cho nên tự tính chân như của vạn hữu tỏ lộ ra trước mắt.

7. Viễn-hành địa (đi xa): Ở đây, tâm ý của hành giả bắt đầu an trú thường xuyên trong sự thông suốt về tính “không” của ngã và pháp. Tuy tà kiến vô thức về sự tồn tại của pháp vẫn còn, nhưng tà kiến vô thức về sự tồn tại của ngã thì hoàn toàn bị tiêu diệt, phát khởi đại bi tâm và thành đạt phương tiện vô ngại trong việc độ sinh.

8. Bất-động địa (không lay động): Ở địa vị này, tà kiến vô thức về sự tồn tại của pháp nơi tâm ý hành giả cũng hoàn toàn bị tiêu diệt. Vì vậy, hành giả được an trú trong trạng thái hoàn toàn thanh tịnh mà du hành tự tại, không còn bị các ma phiền não tham sân si cũng như ngũ dục, lục trần làm cho lay động (bất động); không còn bị rơi trở lại trong các cảnh giới đau khổ (bất đọa); không còn bị thối lui vào con đường tu tập của hàng tiểu thừa (bất thối); và không còn bị bất cứ một thứ tà kiến nào làm cho tán loạn (bất tán).

9. Thiện-tuệ địa (trí tuệ diệu dụng): Hành giả thành tựu được trí tuệ biện tài vô ngại, nên có thể ra đi giáo hóa độ sinh khắp cả mười phương ba cõi, đồng thời xét đoán được những chúng sinh nào đáng được cứu độ và những chúng sinh nào không đáng được cứu độ.

10. Pháp-vân địa (mây pháp): Đây là địa vị cao tột trên đường tu tập của Bồ-tát hạnh. Ở địa vị này, hành giả có tuệ giác và muôn hạnh đầy đủ, du hành giáo hóa khắp nơi với tâm bình đẳng, không phân biệt người đáng hay không đáng được cứu độ, dường như mây lành, có thể tưới mưa cam lộ xuống khắp các nơi để làm nảy sinh thiện căn nơi tất cả chúng sinh. Có thể nói, đó chính là hóa thân của Phật.

(*) Xin xem lại mục “Bốn Phiền Não” ở trước.

(**) Xin xem lại mục “Hai Sự Thật” ở trước.

MƯỜI ĐỘNG LỰC SAI KHIẾN (thập sử)

Đây là mười loại phiền não làm động lực sai khiến, thúc đẩy chúng sinh tạo nên các hành động sai lầm, xấu xa, tội lỗi, gây đau khổ cho mình, cho người, và cho cả muôn loài; đó là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến.

10 động lực sai khiến này có thể chia làm hai nhóm: một nhóm gồm 5 loại phiền não ở phần đầu, tức tham, sân, si, mạn, nghi, gọi là “5 độn sử” (xin xem lại mục “Năm Độn Sử” ở trước); và một nhóm gồm 5 loại phiền não ở phần sau, tức thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, gọi là “5 lợi sử” (xin xem lại mục “Năm Lợi Sử” ở trước).

Như vậy, 10 động lực sai khiến này cũng chính là 6 phiền não gốc rễ (lục căn bản phiền não – xin xem lại mục “Sáu Phiền Não Gốc Rễ” ở trước), nhưng được trình bày chi tiết hơn, cho nên chúng cũng được gọi là “10 phiền não gốc rễ” (thập căn bản phiền não).

Lại nữa, 6 phiền não gốc rễ cũng có tên là 6 tùy miên (xin xem lại mục “Sáu Tùy Miên” ở trước), cho nên, 10 động lực sai khiến này cũng được gọi là “10 tùy miên” (thập tùy miên).

Tóm lại, 10 sử cũng tức là 10 tùy miên, cũng tức là 10 căn bản phiền não, và cũng tức là 6 căn bản phiền não.

MƯỜI HẠNH (thập hạnh)

Đây cũng là 10 trong 52 giai vị trên tiến trình tu tập của hàng Bồ-tát. Chữ “hạnh” ở đây là chỉ cho các hành động lợi tha. Ở hai cấp Mười-tín và Mười-trụ, hành giả chỉ tu phần tự lợi, ở cấp Mười-hạnh (cấp thứ ba) này thì hành giả tu phần lợi tha, gồm có:

1. Hạnh Hoan-hỉ: Bồ-tát dùng vô lượng diệu đức của Như Lai mà tùy thuận ở khắp mười phương.

2. Hạnh Nhiêu-ích: Thường khéo léo làm những công việc có lợi ích cho chúng sinh.

3. Hạnh Vô-sân-hận: Tu nhẫn nhục, dứt bỏ sân hận, nhẫn nhịn với cả kẻ oán thù, giữ đức khiêm cung, không làm hại mình hại người.

4. Hạnh Vô-tận: Luôn luôn tinh tấn, phát tâm cứu độ tất cả chúng sinh, cho đến khi tất cả đều chứng nhập niết bàn, không mỏi mệt, không chán nản.

5. Hạnh Li-si-loạn: Bồ-tát luôn sống trong chánh niệm, tâm không tán loạn; đối với tất cả các pháp, không lầm lẫn.

6. Hạnh Thiện-hiện: Biết không có pháp, ba nghiệp vắng lặng, không bị cái gì ràng buộc mà cũng không đắm trước vào cái gì, tuy vậy, không bao giờ từ bỏ việc giáo hóa chúng sinh.

7. Hạnh Vô-trước: Trải qua vô số cõi nước cúng dường chư Phật và cầu pháp mà tâm không bao giờ cho là đủ, tuy vậy, lúc nào cũng lấy cái tâm vắng lặng mà quán chiếu các pháp, cho nên không hề bị vướng mắc vào pháp nào cả.

8. Hạnh Tôn-trọng: Tôn trọng căn lành và trí tuệ, cho nên càng tăng tiến tu tập các hạnh tự lợi và lợi tha.

9. Hạnh Thiện-pháp: Có đủ trí giải và biện tài vô ngại, thành tựu các thiện pháp giáo hóa để giữ gìn chánh pháp, làm cho hạt giống Phật không bị dứt tuyệt.

10. Hạnh Chân-thật: Thành tựu ngôn ngữ “đệ nhất nghĩa đế”, nói thế nào làm thế ấy, làm thế nào nói thế ấy, nói và làm phù hợp nhau, sắc và tâm đồng thuận.

MƯỜI HẠNH NHẪN (thập nhẫn)

Trong thời kì tu hành Bồ-tát đạo, hành giả thường thực hành 10 hạnh nhẫn như sau:

1. Nội nhẫn: Bồ-tát thường nhẫn chịu những đau khổ trong thân tâm mình, không hề khởi niệm buồn lo.

2. Ngoại nhẫn: Bồ-tát thường nhẫn chịu mọi khổ não từ bên ngoài mang lại, không hề khởi niệm sân hận.

3. Pháp nhẫn: Bồ-tát nghe được giáo pháp vi diệu sâu xa mà tâm không kinh sợ, lại còn cần cầu đọc tụng.

4. Tùy Phật giáo nhẫn: Khi tâm buồn giận khởi dậy, Bồ-tát y theo lời Phật dạy mà tư duy quán chiếu: thân này nương vào đâu mà sinh? Các pháp nhân những duyên gì mà khởi? Do không tìm thấy nguyên nhân của nỗi buồn giận, không thấy được cái chỗ thân sinh, cái chỗ duyên khởi, mà cái tâm buồn giận kia tiêu mất.

5. Vô phương sở nhẫn: Bồ-tát ở bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào cũng thường sinh tâm nhẫn chịu.

6. Vô phân biệt nhẫn: Không phân biệt là người thân kẻ sơ, người trên kẻ dưới, người giàu sang kẻ nghèo hèn, tất cả đều đem tâm bình đẳng mà nhẫn chịu.

7. Bất kiến sự nhẫn: Tâm nhẫn có mặt thường trực, không phải đợi lúc đối diện với hoàn cảnh ngang trái mới khởi tâm nhẫn chịu.

8. Bất bức não nhẫn: Nếu gặp cảnh xấu, bị lăng nhục, Bồ-tát cũng nhẫn chịu được.

9. Bi tâm nhẫn: Bị chúng sinh nhục mạ, gây buồn phiền, Bồ-tát đã không dấy niệm sân hận, lại còn khởi tâm từ bi thương xót.

10. Thệ nguyện nhẫn: Bồ-tát nghĩ nhớ từ buổi ban đầu từng ở trước Phật phát nguyện cứu độ chúng sinh, ngày nay nếu sân hận buồn phiền đối với chúng sinh, thì đã không tự độ được, còn nói gì đến việc độ cho ai! Nghĩ như thế thì tâm sân hận không thể phát sinh được, mà đối với bất cứ chuyện gì Bồ-tát cũng nhẫn chịu được.

MƯỜI HỒI HƯỚNG (thập hồi hướng)

Trên tiến trình tu tập của hàng Bố-tát, Mười-tín là cấp thứ nhất; Mười-trụ là cấp thứ nhì; Mười-hạnh là cấp thứ ba; Mười-hồi-hướng này là cấp thứ tư. “Hồi hướng” nghĩa là hướng trở lại, xoay trở về, ở đây có ý nói, Bồ-tát khởi tâm đại bi, quay trở lại để cứu hộ chúng sinh. Mười-hồi-hướng cũng được gọi là Mười-hướng, gồm có 10 giai vị:

1. Hồi hướng cứu hộ tất cả chúng sinh nhưng lìa khỏi tướng chúng sinh: Thực hành sáu pháp qua bờ, bốn cách thu phục để cứu hộ chúng sinh một cách bình đẳng, không phân biệt kẻ oán người thân.

2. Hồi hướng không hoại: Đã có được một đức tin bền chắc (không hoại) nơi Tam Bảo, nay đem hồi hướng căn lành ấy đến tất cả chúng sinh, làm cho họ đạt được nhiều lợi ích an lành.

3. Hồi hướng bằng với tất cả chư Phật: Đồng với những việc làm của chư Phật trong ba đời, không đắm sinh tử, không xa rời niết bàn.

4. Hồi hướng đến tất cả mọi nơi: Lấy những căn lành tu tập được, do sức hồi hướng mà trải khắp đến tất cả mọi nơi, từ Tam Bảo cho đến chúng sinh, dùng làm các lợi ích để cúng dường và phụng sự.

5. Hồi hướng kho công đức vô tận: Tùy hỉ tất cả căn lành vô tận, hồi hướng mà làm Phật sự, để đạt được căn lành công đức vô tận.

6. Hồi hướng tùy thuận căn lành bình đẳng: Hồi hướng những căn lành tu tập được, được chư Phật gia hộ, có thể thành đạt những căn lành kiên cố.

7. Hồi hướng tùy thuận quán sát bình đẳng tất cả chúng sinh: Tăng trưởng tất cả các căn lành, hồi hướng cho lợi ích tất cả chúng sinh.

8. Hồi hướng tướng chân như: Thuận theo tướng chân như mà đem tất cả căn lành để hồi hướng.

9. Hồi hướng giải thoát, không trói buộc, không dính mắc: Đối với tất cả các pháp, không ôm giữ, không bám dính, không bị ràng buộc, đạt được tâm giải thoát, dùng các pháp lành mà hồi hướng, thực hiện hạnh Phổ Hiền, đầy đủ mọi công đức.

10. Hồi hướng pháp giới vô lượng: Tu tập tất cả căn lành vô tận, lấy đó để hồi hướng, nguyện cầu pháp giới có được vô lượng công đức.

MƯỜI MÔN MẦU NHIỆM (thập huyền môn - thập huyền duyên khởi)

Đây là giáo lí chủ yếu của tông Hoa Nghiêm. 10 môn mầu nhiệm tức là từ 10 phương diện mà nói rõ cái tướng sự sự vô ngại pháp giới trong bốn loại pháp giới (lí vô ngại pháp giới, sự vô ngại pháp giới, lí sự vô ngại pháp giới, sự sự vô ngại pháp giới), nhằm biểu thị yếu nghĩa: mọi hiện tượng trong vũ trụ tức là nhau (tương tức), ở trong nhau (tương nhập), tác dụng lẫn nhau (hỗ tương tác dụng), không chướng ngại nhau (hỗ bất tương ngại). Thông suốt được yếu nghĩa này thì có thể nhập vào đại hải huyền diệu của kinh Hoa Nghiêm, cho nên gọi là “huyền môn”. Lại nữa, 10 huyền môn này đều cùng làm điều kiện cho nhau mà khởi, cho nên cũng gọi là “duyên khởi”. Xin lược thuật 10 huyền môn ấy như sau:

1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn: Tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ tương ứng cùng lúc, đầy đủ trọn vẹn cùng lúc, cùng y nơi lí duyên khởi mà thành lập, một và nhiều cùng một thể tánh với nhau, không có trước sau khác biệt nhau.

2. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn: Không gian rộng hẹp có vẻ như mâu thuẫn nhau, nhưng chính sự mâu thuẫn ấy lại là môi giới để mọi hiện tượng có thể “tương tức tương nhập”; cho nên cái rộng và cái hẹp hoàn toàn tự tại viên dung, không có tính chướng ngại.

3. Nhất đa tương dung bất đồng môn: Một hiện tượng và nhiều hiện tượng dung nhiếp nhau, trong một hiện tượng có đầy đủ nhiều hiện tượng, trong nhiều hiện tượng có dung chứa một hiện tượng; một và nhiều nhập vào, ở trong nhau hoàn toàn vô ngại, nhưng tính chất và tướng trạng khác nhau của chúng vẫn không mất.

4. Chư pháp tương tức tự tại môn: Mọi sự vật tức là nhau; sự vật này tức là sự vật kia, sự vật kia tức là sự vật này; một sự vật tức là nhiều sự vật, nhiều sự vật tức là một sự vật; vật dơ tức là vật sạch, vật sạch tức là vật dơ; vật nhỏ tức là vật lớn, vật lớn tức là vật nhỏ; thô lậu tức là vi diệu, vi diệu tức là thô lậu; v.v... tất cả đều dung nhiếp nhau mà vẫn tự tại vô ngại.

5. Ẩn mật hiển liễu câu thành môn: Khi một vật có mặt, hiển lộ ra, thì nhiều vật khác ẩn kín, không có mặt; vật hiển lộ ra và nhiều vật ẩn kín ấy đều cùng chung một thể tánh, và đồng thời cùng thành lập. Một pháp và tất cả pháp là cùng một thể tánh.

6. Vi tế tương dung an lập môn: Môn này cũng nằm trong nội dung giáo lí “tương tức tương nhập”, nhưng đặc biệt nhấn mạnh về tướng của sự vật. Chữ “vi tế” có 3 ý nghĩa: - vật được chứa rất nhỏ, như hạt cải được chứa trong chiếc bình thủy tinh; - vật chứa rất nhỏ, như một vi trần chứa hằng sa thế giới; - vi tế khó biết được, như vi trần và quốc độ có thể dung chứa nhau, việc này quá vi tế nên rất khó biết. Một pháp dung nhiếp nhiều pháp, pháp nhỏ nhập trong pháp lớn; nhưng tướng một và tướng nhiều không bị hủy hoại, tướng nhỏ và tướng lớn không bị tạp loạn, trật tự tề chỉnh, cho nên gọi là “an lập”.

7. Nhân Đà La võng pháp giới môn: Sum la vạn tượng trong vũ trụ, mỗi mỗi đều hiển lộ nhau, làm thành nhau, sinh khởi nhau, trùng trùng vô tận, giống như tấm lưới treo ở cung trời Đế Thích. – Tấm lưới treo ở cung điện trời Đế Thích, mỗi mắt lưới đều có gắn ngọc minh châu. Những hạt ngọc này trong suốt, chiếu sáng lẫn nhau, hiện hình trong nhau, trùng trùng vô tận, không gian thì có hạn mà cảnh giới thì vô cùng.

8. Thác sự hiển pháp sinh giải môn: Chân lí thâm diệu khó hiểu, có thể nhìn nơi những sự vật cụ thể thông thường mà hiểu được; như thế là vì, cái ý nghĩa sâu xa của chân lí vốn đã hàm chứa sẵn trong những sự vật cụ thể thông thường. Như thế tức là, sự vật cụ thể thông thường và chân lí nó biểu hiện là một, không phải hai, không khác biệt; sự vật cụ thể tức là chân lí, chân lí tức là sự vật cụ thể.

9. Thập thế cách pháp dị thành môn: 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, mỗi đời lại bao gồm 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai; như thế tức là, 3 đời mà hàm chứa 9 đời. 9 đời này cũng chỉ thu nhiếp vào trong một niệm hiện tiền; vậy một niệm là tổng quát, 9 đời là chi tiết, hợp tổng quát và chi tiết lại với nhau, gọi là “10 đời” (thập thế). Nhưng 10 đời ấy vẫn phân biệt rõ ràng, không hề lẫn lộn, gọi là “cách pháp”. 10 đời tuy khu biệt nhưng tương tức tương nhập; tương tức tương nhập nhưng cái tướng dài ngắn, trước sau không hề mất, gọi là “dị thành”. Thời gian vốn vô thỉ vô chung, 3 đời làm nhân quả cho nhau, dung nhiếp nhau, cho nên một niệm tức là vô lượng kiếp, vô lượng kiếp tức là một niệm; đó là tính viên dung vô ngại của thời gian.

10. Chủ bạn viên minh cụ đức môn: Mọi hiện tượng đều là duyên khởi, cho nên, hiện tượng nào được nêu lên, thì hiện tượng ấy là chủ trong lúc đó, còn tất cả các hiện tượng khác là bạn. Cứ như thế, sum la vạn tượng đều cùng nhau làm chủ làm bạn, không hề trắc trở chướng ngại. Nếu sáng tỏ trọn vẹn yếu nghĩa này, thì quán chiếu bất cứ một pháp nào cũng đều đầy đủ vô tận đức tướng.

MƯỜI NGUYỆN LỚN của BỒ TÁT PHỔ HIỀN (Phổ Hiền thập nguyện)

Phổ Hiền (có nghĩa là sự hiền đức phổ cập khắp nơi) là tên của một vị Bồ-tát lớn, thường được các kinh điển đại thừa (nhất là Hoa Nghiêm và Pháp Hoa) nhắc nhở và khen ngợi. Vì lòng đại bi, ngài nguyện luôn luôn dùng mọi phương tiện để tuyên dương Phật pháp, hóa hiện mọi thân tướng để cứu độ chúng sinh, và ủng hộ tất cả những ai hành trì và hoằng dương Phật pháp. Ngài có lập mười điều nguyện lớn, được ghi trong kinh Hoa Nghiêm như sau:

1. Nguyện thường cung kính và lễ bái chư Phật (lễ kính chư Phật).

2. Nguyện thường khen ngợi công đức của chư Phật (xưng tán Như Lai).

3. Nguyện thường thực hành hạnh bố thí, cúng dường (quảng tu cúng dường).

4. Nguyện thường ăn năn các tội lỗi đã tạo ra và ngăn ngừa các tội lỗi chưa phát sinh (sám hối n

🔔 Vào dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương — ngày 25, 26 và 27/04/2026 — tại thánh địa Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên (Tam Đảo, Phú Thọ) linh thiêng, một pháp hội chưa từng có sẽ diễn ra:
 
🌸 PHÁP HỘI ĐẠI BI QUAN ÂM 2026
🕊️Cầu nguyện Quốc thái Dân an • Hòa bình Thế giới
 
🙏 Do Đức Gyalwang Drukpa — bậc Thượng sư được tôn kính là Hoá Thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát — đích thân chủ trì.
 
🌐 Xem chương trình Pháp hội, giải đáp thắc mắc và đăng ký tham dự tại đây