Từ điển Pháp số căn bản (Pháp số 8)
Thứ hai, 02/05/2016, 15:18
Pháp số 8
TÁM BƯỚC GIẢI THOÁT (bát giải thoát)
Giải thoát là cởi bỏ được mọi sự trói buộc. Khi hành giả diệt trừ được mọi phiền não, không còn bị ràng buộc bởi những kiến chấp, chướng ngại, mê muội, thì được giải thoát. Thành quả giải thoát này gồm có tám bước, do công phu tu tập tám phép thiền định mà đạt được. Khi đã đạt được cả tám bước giải thoát ấy rồi thì hành giả liền vượt thoát ra ngoài ba cõi, chấm dứt sinh tử luân hồi.
1. Bước giải thoát đầu tiên: Trong tự thân đã sẵn có tâm tham ái về chính sắc thân của mình, vì muốn diệt trừ tâm tham ái ấy, hành giả quán chiếu để thấy rõ tính chất bất tịnh, vô thường của thân thể mọi người. Do sự quán chiếu này mà tâm tham ái tự thân không còn nữa. Đó là bước giải thoát đầu tiên của hành giả. (Nội hữu sắc tưởng, quán ngoại sắc giải thoát.)
2. Bước giải thoát thứ hai: Tuy tâm tham ái tự thân đã dứt, nhưng tâm tham ái đối với cõi Dục vẫn còn nhiều, cho nên hành giả cần tiếp tục quán chiếu để thấy rõ hơn nữa tính chất vô thường, bất tịnh của vật chất (sắc thân mọi người) ở cõi Dục; từ đó diệt trừ được tâm tham ái đối với cõi Dục. Đó là bước giải thoát thứ hai của hành giả. (Nội vô sắc tưởng, quán ngoại sắc giải thoát.)
3. Bước giải thoát thứ ba: Khi tâm tham ái đối với tự thân và vật chất cõi Dục đã không còn khởi động nữa thì cái đẹp hiển hiện. Tâm ý của hành giả bấy giờ trở nên trong sạch, sáng suốt, và tiếp tục quán chiếu để thấy rõ sự nhiệm mầu của thực tại vạn hữu; từ đó niềm an lạc phát sinh và tăng trưởng trong khắp tự thân. Hành giả hoàn toàn an trú trong cảnh giới an lạc ấy, và đạt được bước giải thoát thứ ba. (Tịnh giải thoát, thân tác chứng, cụ túc trú.)
4. Bước giải thoát thứ tư: Với tâm ý trong sáng, không tham đắm, không vướng mắc, hành giả vượt ra khỏi phạm vi hạn hẹp của tự thân để quán chiếu tính chất vô biên của không gian và đồng nhất mình với không gian vô biên đó; đồng thời hành giả cũng thấy rõ tính cách đồng nhất giữa không gian vô biên và các vật thể. (Không vô biên xứ giải thoát.)
5. Bước giải thoát thứ năm: Tiến thêm một bước, hành giả quán chiếu để thấy rõ rằng, cả không gian và thời gian đều dung nhiếp lẫn nhau, nương vào nhau mà tồn tại; cả hai đều không đứng độc lập với nhận thức, mà chính là những biểu tượng của nhận thức. Hành giả an trú trong chánh niệm “tâm thức bao hàm cả không thời gian”, tức là an trú trong bước giải thoát thứ năm. (Thức vô biên xứ giải thoát.)
6. Bước giải thoát thứ sáu: Hằng ngày chúng ta nhìn thực tại bằng các khuôn khổ của tư tưởng – tức là những ý niệm đối đãi về trong - ngoài, có - không, sinh - diệt, cao - thấp, trên - dưới, lớn - nhỏ, v.v... Nhưng tự thân thực tại thì không bao giờ mang lấy những khuôn khổ như vậy. Cho nên, khi tu tập phép thiền định thứ sáu này, hành giả phải quán chiếu để thấy rõ tính chất vô tướng của thực tại vạn hữu. Với phép thiền quán này, hành giả vượt thoát được thế giới khái niệm, vất bỏ được các khuôn khổ của tư tưởng, và thực tại hiển lộ trong thật tướng như như bình đẳng của nó. Đó là bước giải thoát thứ sáu mà hành giả đạt được. (Vô sở hữu xứ giải thoát.)
7. Bước giải thoát thứ bảy: Khi hành giả bước sang giai đoạn vất bỏ được sự phân biệt về chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức – tức là không còn thấy có một bên là chủ thể quán chiếu và một bên là đối tượng quán chiếu, thì đó là lúc hành giả đang ở trong trạng thái thiền định gọi là “không phải tư tưởng cũng không phải là không phải tư tưởng”; tức là bước giải thoát thứ bảy. (Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát.)
8. Bước giải thoát thứ tám: Đây là bước giải thoát sau cùng, là đỉnh cao nhất của tuệ giác mà hành giả đạt được. Lúc này hành giả thật sự thấu suốt chân tướng của thực tại, giải thoát hoàn toàn khỏi mọi khái niệm (cảm thọ và tư tưởng), phá tan được lưới sinh tử, không rơi lọt lại vào vòng luân hồi. (Diệt tận giải thoát, hay Diệt thọ tưởng giải thoát.)
(nước) TÁM CÔNG ĐỨC (bát công đức thủy)
Đây là chỉ cho loại nước có đầy đủ 8 thứ công đức thù thắng, là loại nước chứa trong các ao báu ở thế giới Cực-lạc của đức Phật A Di Đà. 8 thứ công đức thù thắng ấy là: trong trẻo sạch sẽ (trừng tịnh), thanh tịnh mát mẻ (thanh lĩnh), ngon ngọt (cam mĩ), nhẹ nhàng mềm mại (khinh nhuyễn), trơn mượt (nhuận trạch), an lành điều hòa (an hòa), trừ đói khát (trừ cơ khát), nuôi lớn các căn (trưởng dưỡng chư căn).
TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ của BẬC ĐẠI NHÂN (bát đại nhân giác)
Do dùng trí tuệ quán chiếu mà thấy rõ được thật tướng của vạn hữu thì gọi là “giác ngộ”. Từ “đại nhân” ở đây được dùng để chỉ cho các bậc đã giác ngộ. Các bậc đại nhân sở dĩ đã giác ngộ là vì quí ngài đã dùng trí tuệ quán chiếu và đã thấy rõ chân tướng của thực tại vạn hữu qua tám đề tài thiền quán sau đây:
1. Cuộc đời, nói chung là những yếu tố cấu tạo nên con người và vạn vật như bốn đại và năm uẩn đều là trống rỗng (không); là sinh diệt và thay đổi không ngừng (vô thường); là đầy dẫy khổ đau (khổ); là hư ngụy và không có thực thể (vô ngã); còn nói riêng về “ta” thì tâm ta là nguồn cội phát sinh bao điều xấu, và thân ta thì chỉ là nơi tích tụ của vô vàn tội lỗi.
2. Càng lắm tham muốn (đa dục) thì càng nhiều khổ đau (đa khổ). Càng ít tham muốn (thiểu dục) thì thân tâm càng được thư thái (tự tại).
3. Càng chạy theo danh lợi thì càng gây nhiều phiền não tội lỗi. Nếu biết sống vừa ý với điều kiện vật chất khiêm nhượng (tri túc) thì tâm ý lúc nào cũng được an vui, để chỉ đeo đuổi một sự nghiệp duy nhất của mình là thành tựu trí tuệ giác ngộ.
4. Tính lười biếng luôn luôn đưa ta đến con đường đọa lạc. Vì vậy, ta phải luôn luôn siêng năng tu tập để diệt trừ phiền não và vượt khỏi vòng trói buộc của sinh tử luân hồi.
5. Chính vì vô minh mà ta cũng như mọi người cứ bị giam hãm trong ngục tù sinh tử. Vì vậy, ta luôn luôn phải cố gắng học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt được biện tài để giáo hóa cho mọi người, tất cả đều được niềm vui lớn.
6. Sự nghèo khổ dễ khiến cho người ta gây nên nhiều tội lỗi xấu xa; cho nên người tu hạnh Bồ-tát phải thường xuyên thực hành hạnh bố thí, không phân biệt kẻ ghét người thương, bỏ qua những điều ác người ta đã làm đối với mình, và biết xót thương những người đã làm ác.
7. Năm thứ dục vọng (ngũ dục) đầy sức quyến rũ, làm cho con người gây nên tội lỗi và chịu nhiều hoạn nạn; cho nên người tu học sống trong thế tục mà không nhiễm những thói hư tật xấu của thế tục, lúc nào cũng sống đời đạm bạc, giữ phạm hạnh thanh cao, đem lòng từ bi để đối xử với tất cả mọi người.
8. Mọi loài chúng sinh đang chịu bao thống khổ trong biển lửa sinh tử, cho nên hạnh nguyện của người tu học là phát tâm đại thừa, nguyện cứu tế cho mọi người, mọi loài, khiến cho tất cả đều đạt được niềm vui giải thoát.
Tám đề tài thiền quán trên đây được rút ra từ kinh Bát Đại Nhân Giác.
TÁM ĐIỀU KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN (bát bất tư nghị)
Trong suốt thời gian hơn 20 năm làm thị giả thường xuyên cho Phật, tôn giả A Nan luôn luôn thực hiện 8 điều không thể nghĩ bàn:
1. Không nhận lời mời riêng (bất thọ biệt thỉnh). Nhất cử nhất động, tôn giả đều theo cùng tăng chúng, không bao giờ nhận lời mời của một vị thí chủ nào để đi thọ trai riêng một mình.
2. Không nhận y cũ (bất thọ cố y). Dù đức Thế Tôn có cho y phục cũ của Ngài, tôn giả không bao giờ dám thọ nhận.
3. Yết kiến luôn luôn đúng giờ (kiến bất phi thời). Với bổn phận làm thị giả cho Phật, bất cứ ai xin yết kiến riêng đức Phật, đều do tôn giả sắp xếp giờ giấc. Khi giờ giấc đã sắp xếp xong, tôn giả đều nhớ hết, và thực hiện đúng thời, không bao giờ làm cho ai phải phiền hà.
4. Thấy người nữ không sinh tâm ái dục (kiến nữ nhân bất sinh dục tâm). Dù chưa chứng quả A-la-hán, tôn giả cũng đã vĩnh viễn xa lìa tham ái, không còn các niệm tưởng dục vọng; trông thấy phái nữ, dù là thiên nữ, đều không sinh tâm nhiễm trước.
5. Pháp đã nghe không hỏi lại (pháp bất tái vấn). Tất cả kinh điển, khi nghe Phật thuyết xong, tôn giả liền hiểu rõ, nhớ kĩ, không bao giờ hỏi lại đức Phật lần thứ hai.
6. Biết rõ các loại định đức Phật đang nhập (tri Phật sở nhập định). Tôn giả thường biết rõ các loại định đức Phật đang nhập, và soi thấy rõ căn cơ nào, mà đức Phật sẽ nói pháp yếu nào.
7. Biết rõ chúng hội đạt được lợi ích (tri chúng hội đắc ích). Tất cả những người đến nghe Phật nói pháp yếu, đều đạt được lợi ích và chỗ chứng ngộ không đồng nhau, đối với sự việc ấy, tôn giả biết rõ hết.
8. Tất cả lời dạy của Phật thảy đều biết rõ hết (tất tri Phật sở thuyết pháp). Tất cả giáo pháp Phật dạy, dù cho tùy theo căn cơ cao thấp không đồng nhau mà giáo pháp có sâu cạn khác nhau, tôn giả đều biết rõ thâm nghĩa mật ý của Phật.
Mặt khác, trong kinh Đại Bát Niết Bàn, đức Phật cũng nêu ra 8 tính chất không thể nghĩ bàn của biển cả để ví dụ cho đặc tính của niết bàn:
1. Dần dần càng sâu (tạm tạm chuyển thâm). Trong bờ biển cạn, càng ra khơi biển càng sâu. Đức Phật nói pháp niết bàn cũng vậy, tùy theo căn tánh của chúng sinh mà tuần tự hóa độ theo thứ lớp, từ cạn đến sâu, từ thấp lên cao, cho đến chỗ cứu cánh cùng cực.
2. Sâu khó tới đáy (thâm nan đắc để). Biển rất sâu, nếu không có phương tiện tân tiến thì khó có thể xuống tới đáy được. Đức Phật nói pháp niết bàn cũng vậy, lí trí viên dung, sâu xa vi diệu, dù hàng Nhị-thừa cho đến Bồ-tát cũng không suy lường được đến chỗ tột cùng.
3. Cùng một vị mặn (đồng nhất hàm vị). Nước của trăm dòng sông, khi đã chảy vào biển cả thì có cùng một vị mặn. Phật nói pháp niết bàn, tuy có các thừa Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát và Phật thừa khác nhau, nhưng đều qui về một vị, đó là “vị giải thoát”.
4. Thủy triều không quá hạn (triều bất quá hạn). Thủy triều sớm chiều lên xuống chừng mực, không vượt quá giới hạn. Đức Phật nói pháp niết bàn, chế định các giới cấm, khiến các đệ tử như pháp thọ trì, không được vượt quá.
5. Chứa rất nhiều kho báu (chủng chủng bảo tạng). Tất cả mọi thứ châu báu đều hàm chứa trong biển cả. Đức Phật nói pháp niết bàn là kho báu của thế gian, rất tôn rất quí. Phàm chúng sinh nghèo túng về giáo pháp, đều có thể nương vào đó mà tu tập, khiến cho thoát được khổ đau bức bách, đạt được lợi ích an lạc xuất thế gian.
6. Có chúng sinh thân lớn cư trú (đại thân chúng sinh cư trú). Trong biển cả, tất cả các loài cá có thân hình to lớn như cá voi, cá nhà táng, đều nương nơi đó mà ở. Đức Phật nói pháp niết bàn sâu xa không lường, tất cả chư Phật và Bồ-tát đều an trú ở trong đó.
7. Không chứa xác chết (bất túc tử thi). Biển cả không chứa giữ tử thi. Những việc làm phi pháp như ăn cắp vật dụng của tăng chúng, cất chứa các vật bất tịnh, hủy báng kinh pháp đại thừa v.v..., và tất cả những loại người tà ác, đều được xem như tử thi. Đức Phật nói pháp niết bàn, khiến cho chúng sinh thường trú trong giới pháp, sinh tâm chánh tín thanh tịnh, không khởi kiến chấp đoạn diệt, xa lìa tất cả mọi loại người tà ác.
8. Muôn sông mưa lớn không tăng không giảm (vạn lưu đại vũ bất tăng bất giảm). Dù cho hàng vạn dòng sông đổ nước vào, dù cho mưa lớn trút nước xuống, nước trong biển cả vẫn không hề tăng giảm. Đức Phật nói pháp niết bàn là đàm luận sâu rộng về Phật tánh, diễn nói đầy đặn về các đức tính viên thường, bình đẳng, thanh tịnh, bất sinh, bất diệt, chúng sinh cùng chư Phật đồng một nguồn giác, chưa từng sai khác.
TÁM KHOA GIÁO (bát giáo)
Tất cả giáo pháp do đức Phật giảng dạy trong suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài, được đại sư Trí Giả của tông Thiên thai (Trung-hoa) phân chia thành tám loại khoa giáo, căn cứ trên hai mặt:
A. Về mặt nội dung, có bốn loại:
1. Tạng giáo: những giáo pháp có nội dung nông cạn, dễ hiểu, chủ yếu là dành cho những người căn cơ thấp kém.
2. Thông giáo: những giáo pháp có nội dung cao hơn, phù hợp cho cả những người có căn cơ thấp lẫn căn cơ cao, trong đó, những giáo nghĩa về “không” và “vô sinh” được đặc biệt nhấn mạnh.
3. Biệt giáo: những giáo pháp có nội dung sâu xa, đặc biệt để giáo hóa chúng Bồ-tát đại thừa.
4. Viên giáo: giáo pháp thâm diệu, cao tột mà chỉ có các vị Đại Bồ-tát với trí tuệ siêu việt mới lĩnh hội và chứng ngộ được.
B. Về mặt hình thức, có bốn loại:
1. Đốn giáo: Đối với thính chúng có căn trí sáng suốt, linh lợi, đức Phật dùng các pháp môn thật sâu xa, mầu nhiệm để đưa họ đến quả vị giác ngộ một cách mau chóng. Các loại kinh điển đại thừa có nội dung cao siêu như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn v.v... thuộc về loại này.
2. Tiệm giáo: Đối với thính chúng có căn tính thấp kém hơn, đức Phật dùng các pháp môn tiệm tiến, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao để hướng dẫn họ từng bước một, cho đến khi đạt được quả vị giác ngộ. Các kinh A Hàm và một số kinh điển đại thừa khác thuộc về loại này.
3. Bí mật giáo: Đối với hạng người có căn trí tinh thuần đặc biệt, đức Phật chỉ dùng sức “không thể nghĩ bàn” (bất khả tư nghị) ở thân khẩu ý của mình mà giáo hóa một cách bí mật, chỉ có Ngài và các đương sự liên hệ mới hiểu được nhau mà thôi. Các thần chú ở rải rác trong các kinh điển đại thừa là một ví dụ.
4. Bất định giáo: Cũng có những giáo pháp mà khi đức Phật nói ra, một số người thì lĩnh hội được và rất lấy làm lợi lạc, nhưng đồng thời, một số người khác thì lại không thể lĩnh hội được và chẳng thấy có ích lợi gì cả.
TÁM KHỔ (bát khổ)
Chúng sinh luân hồi trong sáu đường, luôn luôn phải nhận chịu vô vàn đau khổ. Đau khổ là nội dung của sự thật đầu tiên (khổ đế) trong “bốn sự thật” (tứ đế), là bài pháp đầu tiên đức Phật nói tại vườn Nai để hóa độ cho nhóm 5 vị đạo sĩ do sa môn Kiều Trần Như lãnh đạo. Nhìn thật sát cuộc sống của con người trước mắt, không việc gì là không phải khổ đau. Những nỗi đau khổ mà nhân loại phải nhận chịu, thật nhiều vô lượng, nhưng có thể thâu tóm trong 8 loại tổng quát như sau:
1. Sinh khổ: Sinh ra đời là một nỗi khổ lớn; hãy quan sát các sự trạng sau đây:
a) Khi nghiệp thức gá vào thai mẹ, thì bào thai chỉ là một nơi chật hẹp, bất tịnh; lại phải sống nhờ vào hơi thở ra vào của mẹ, không được tự tại.
b) Bào thai trải qua 10 tháng, nhờ hơi nóng và thức ăn trong bụng mẹ nuôi dưỡng mà thân thể dần dần thành hình, nhưng phải nằm chen giữa bao nhiêu bộ phận khác ở trong bụng mẹ, bị chèn ép bốn bề, chật hẹp như bị tù ngục.
c) Thai nhi đến ngày chào đời, ra khỏi bụng mẹ bằng một con đường nhỏ hẹp, thật là đau đớn; rồi phải chạm xúc với không khí nóng lạnh khác lạ với lúc ở trong bụng mẹ, da thịt non nớt mà phải đụng chạm với khăn lau, áo quần, đau như bị dao cứa.
d) Ra đời gặp phải gia đình hoặc giàu sang; hoặc nghèo hèn; tướng mạo hoặc xinh đẹp, hoặc xấu xí; tâm tính hoặc thông minh, hoặc ngu đần v.v..., tất cả hầu như đều do từ đâu sắp đặt sẵn, bản thân không có chút tự do lựa chọn nào, cũng không tự chủ được chút nào; rồi trong đời sống, từ lúc bé thơ cho đến lúc trưởng thành và già chết là cả một khoảng dài tranh đấu cho sự sống còn, biết bao nhiêu vất vả, gian nan, nguy hiểm; những suy nghĩ, hơn thua, giành giựt, phiền muộn, lo âu, sợ sệt; những áp bức, hành hạ, lăng nhục, tù ngục, v.v... vô số nỗi khổ phải gánh chịu, không thể dùng ngôn từ mà nói cho hết được.
2. Lão khổ: Tuổi già mọi thứ đều suy yếu, cũng chịu nhiều nỗi khổ, như: nhan sắc mất hết vẻ xinh đẹp, sức lực yếu đuối, các căn đều không còn khỏe mạnh, đầu bạc, răng rụng, da nhăn nheo, mắt mờ, tai điếc, thường bị đau nhức, đi đứng không vững vàng, run rẩy, dễ bị bệnh hoạn, tinh thần suy kém ngờ nghệch, mất hết sức tinh anh nhạy bén, v.v...
3. Bệnh khổ: Bệnh tật cũng là nỗi khổ lớn, mà mọi người trai gái già trẻ, ai ai cũng thấy rõ. Bệnh tật không phải chỉ có ở thân, mà còn có cả ở tâm; thân bệnh, có những trường hợp vô cùng đau đớn, nhưng so ra, tâm bệnh còn trầm trọng hơn. Cần nhận biết rõ một điều quan trọng, dù là thân bệnh hay tâm bệnh, cũng đều do tham sân si mà gây ra.
4. Tử khổ: Cái khổ của sự chết cũng là điều hiển nhiên đối với người đời, ai cũng thấy rõ. Cái chết có thể do bệnh tật gây ra, do mạng số hết mà đến lúc phải chết, và cũng có thể do các tai nạn từ ngoại cảnh ập vào, như xe đụng, nước lụt, lửa cháy, động đất, hay mũi tên hòn đạn do ai đó bắn tới, v.v... rất nhiều ác duyên gây ra chết chóc. Người chết tự mình thân tâm đau đớn, khổ sở, mà còn làm cho thân nhân bè bạn cũng đau đớn khổ sở vì tiếc thương, vì cảm thấy bơ vơ mất mát. Nếu không phải là người biết tu hành, là người suốt đời gây nghiệp bất thiện, thì cái chết lại càng là một nỗi đau khổ lớn lao, vì cái chết ấy chính là dấu hiệu của sự làm mất thân người để sau đó bị đọa lạc vào các nẻo đường xấu ác, các cảnh giới khổ đau.
5. Ái biệt li khổ: Những người yêu thương (ái) nhau (như cha mẹ và con cháu, vợ chồng, thầy trò tâm đắc, bạn bè thân thiết, v.v...), từng sống chung với nhau, hoặc thường tới lui gần gũi, mà gặp hoàn cảnh trái ngang phải chia lìa xa cách (biệt li), đó là một nỗi khổ cũng xảy ra rất thông thường trong đời sống con người.
6. Oán tắng hội khổ: Những người thù oán (oán) nhau, không ưa (tắng) nhau mà cứ phải gặp (hội) hoặc ở chung với nhau, cũng là một cái khổ. Kẻ thân thuộc ở trong gia đình (như con cái chẳng hạn) mà cứ đua đòi theo chúng bạn xấu ác ở ngoài, rồi bòn rút tài sản, phá nát nhà cửa, gây bao phiền nhiễu cho gia đình, cũng thuộc về cái khổ này.
7. Cầu bất đắc khổ: Những điều mình ưa thích, mưu tìm cho có (cầu) mà không được thỏa mãn (bất đắc), đó cũng là một nỗi khổ. Người đời phần nhiều tham lam vô độ (nào danh vọng, địa vị, quyền lợi; nào ái tình, khoái lạc, tiền tài, v.v...), cái gì cũng muốn thu về cho mình; nhưng đâu phải cứ muốn gì là được nấy, bởi vậy mà khổ sở rất nhiều. Ngay cả những ước muốn chính đáng, như muốn được tu hành, làm các việc thiện chẳng hạn, mà không đủ duyên lành, không có thiện tri thức giúp đỡ, nên không thực hiện như ý muốn được, đó cũng là một nỗi khổ.
8. Ngũ ấm xí thịnh khổ: Tác dụng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức (ngũ uẩn, hay ngũ ấm) nổi lên hừng hực (xí thịnh), che lấp (ấm) chân tính, khiến cho bỏ báo thân này lại phải thọ sinh báo thân khác. Lại nữa, cũng vì năm ấm tích tụ lại để làm thành cái báo thân này nên mới phải nhận chịu các nỗi khổ sinh, già, bệnh, chết, v.v... như vừa trình bày trên.
TÁM KHÔNG tức TRUNG ĐẠO (bát bất trung đạo)
Học phái Trung Quán của Phật giáo đại thừa ở Ấn-độ thời cổ từng nêu ra luận thuyết về giáo nghĩa “trung đạo”, nhằm đả phá 8 ý niệm cực đoan của phàm phu và ngoại đạo về vạn pháp, như: sinh - diệt, thường - đoạn, một - khác, đến - đi. Ý nghĩa của luận thuyết về “trung đạo” nói rằng, vạn pháp trong vũ trụ đều do nhân duyên tụ tán mà có các hiện tượng sinh diệt phát sinh; sự thật thì không sinh không diệt. Nếu cho là có sinh có diệt thì đó là chỉ thấy có một bên (nhất biên), là quan niệm cực đoan, không đúng với lẽ thật. Phải dứt bỏ cái thấy một bên (cũng tức là hai bên – nhị biên) này, tức là thấy vạn pháp không sinh không diệt, mới là cái thấy “trung đạo”, và chính đó là cái thấy có trí tuệ, đúng với lẽ thật (chân lí). Bồ-tát Long Thọ (cuối thế kỉ thứ 2 đầu thế kỉ thứ 3 TL), trong tác phẩm nổi danh Trung Luận, có viết bài kệ như sau:
Bất sinh diệc bất diệt (không sinh cũng không diệt)
Bất thường diệc bất đoạn (không thường còn cũng không mất hẳn)
Bất nhất diệc bất dị (không một cũng không khác)
Bất lai diệc bất xuất (không đến cũng không đi)
Năng thuyết thị nhân duyên (nói được nhân duyên đó)
Thiện diệt chư hí luận (diệt hết mọi hí luận)
8 từ bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất lai, bất xuất ở trong bài kệ trên, gọi là “bát bất” (8 không). Chữ “bất” được dùng với ý phủ định mạnh mẽ, để bác bỏ 8 quan niệm tà chấp của phàm phu, ngoại đạo, và làm sáng tỏ thật tướng trung đạo của vạn pháp; cho nên nói “8 không tức trung đạo” (bát bất trung đạo).
“Trung đạo” nghĩa là con đường trung hòa, không thiên lệch về một bên, vượt lên trên mọi đối đãi bỉ thử, thoát khỏi mọi phạm trù tư tưởng của thế gian, mọi kiến chấp tà ngụy của ngoại đạo.
TÁM NẠN (bát nạn)
Chữ “nạn” ở đây có nghĩa là chướng ngại, ngăn trở chúng sinh không đến được với Phật pháp, do đó mà không có cách nào tu tập để cầu thoát li ba cõi. Không thể gặp được Phật pháp là điều bất hạnh to lớn của chúng sinh, cho nên được coi là tai nạn, chướng nạn, hay gọi tắt là “nạn”. Trong kinh điển thường ghi có tám nơi chướng nạn như vậy:
1. Cõi Địa-ngục (Địa-ngục nạn): Đó là nơi hết sức tối tăm, những chúng sinh ác nghiệp nặng nề mới phải đọa vào đó, phải chịu khổ đau triền miên, cho nên không thể thấy Phật nghe pháp được.
2. Cõi Ngạ-quỉ (Ngạ-quỉ nạn): Ở đây chỉ cho cảnh giới của loài ngạ quỉ ác nghiệp nặng nề nhất, suốt kiếp đói khát khổ sở, cả đến tiếng “nước uống” cũng không được nghe, huống hồ là được thấy Phật nghe pháp!
3. Cõi Súc-sinh (Súc-sinh nạn): Những loài cầm thú, côn trùng, nói chung là động vật, tâm ý mê muội, chỉ biết sống theo thú tính tự nhiên, chịu muôn điều khổ sở do con người hành hạ, giết hại, hoặc do chúng nó tự xâu xé, ăn thịt nhau, đâu có điều kiện thấy Phật nghe pháp!
4. Giới người đui điếc câm ngọng (manh lung ám á nạn): Những loại người này vì nghiệp chướng nặng nề mà phải mang những chứng tật suốt đời đau khổ, khó tiếp nhận Phật pháp.
5. Giới người thông minh thế tục (thế trí biện thông nạn): Những người thông minh tài giỏi ở thế gian, dù có trí tuệ hơn người, nhưng chỉ biết phục vụ cho những tham vọng và quyền vị cá nhân, hoặc cho những chủ nghĩa tội ác, những âm mưu tranh đoạt, giết chóc, gây đau khổ, tang tóc cho người đời, hoặc tin tưởng mù quáng theo những tà thuyết mê tín, dị đoan, thì không bao giờ thấy được chánh đạo.
6. Những thế hệ người sinh ra trước và sau thời Phật ra đời (Phật tiền Phật hậu nạn): Do vì không duyên lành, cho nên những hạng người này sinh ra vào những thời kì không có Phật xuất thế, cho đến cả giáo pháp của Phật cũng không còn tồn tại ở thế gian, cho nên không có cách gì thấy Phật nghe pháp.
7. Châu Bắc Câu-lô (Bắc Câu-lô châu nạn): Người ở châu này sống lâu ngàn tuổi, không chết yểu, suốt đời sung sướng, đắm mê hưởng thụ dục lạc, không có ý niệm tu hành, cho nên không có duyên lành thấy Phật nghe pháp.
8. Cõi trời Vô-tưởng (Vô-tưởng thiên nạn): Cõi trời này thuộc trong phạm vi cõi trời Tứ-thiền của Sắc giới. Người ở cõi trời này sống lâu năm trăm đại kiếp, hoàn toàn không có bất cứ niệm tưởng nào nảy sinh, như người đông lạnh, cho nên không thể thấy Phật nghe pháp.
Thật ra, tám nạn ấy chẳng phải ở đâu xa, mà lúc nào cũng có đầy đủ trong thế giới loài người; và cũng chẳng phải chỉ có ở thời đại chúng ta, mà cả ở thời đại Phật tại thế vẫn có đầy đủ. Những người được thấy Phật, hoặc được biết có Phật, nhưng không tin Phật, tính tình kiêu ngạo, phỉ báng Tam Bảo, thì làm sao được gặp Phật, được nghe Phật Pháp! Chúng ta cứ chiêm nghiệm thì tất thấy rõ.
TÁM NGỌN GIÓ (bát phong)
Gió thổi làm lay động muôn vật. Trong đời sống thường tình có tám thứ luôn luôn làm lay động lòng người, khiến sinh ra lắm điều bất an, vọng tưởng; đạo Phật gọi tám thứ đó là “tám ngọn gió”:
1. Lợi: điều gì làm cho thỏa mãn ý muốn của mình.
2. Suy: điều gì không làm thỏa mãn ý muốn của mình.
3. Hủy: lời chê bai sau lưng mình.
4. Dự: lời khen ngợi sau lưng mình.
5. Xưng: lời khen ngợi trước mặt mình.
6. Cơ: lời chê bai trước mặt mình.
7. Khổ: đau thương, buồn phiền.
8. Lạc: vui mừng, sung sướng.
TÁM NGUYÊN TẮC HÀNH ĐỘNG CHÂN CHÍNH (bát chánh đạo - bát thánh đạo)
Tám nguyên tắc hành động chân chính là một trong những đạo lí căn bản nhất của đạo Phật. Về mặt nhân bản, đó là nền đạo đức học thực nghiệm của Phật giáo dùng để rèn luyện con người có được một nhân cách đẹp đẽ, cao thượng, trọn vẹn; về mặt tôn giáo thì đó là những con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, đạt được an lạc, giải thoát khỏi ba cõi, giác ngộ viên mãn, và chứng nhập niết bàn. Tám nguyên tắc này thuộc về sự thật thứ tư (đạo đế) của giáo lí nền tảng “Bốn Sự Thật” (đã được trình bày ở trước). Giáo lí Bát Chánh Đạo này quan trọng đến nỗi, nó đã được Phật dạy ngay trong bài pháp đầu tiên (tại vườn Lộc-uyển, cho năm vị sa môn nhóm Kiều Trần Như) sau ngày thành đạo, rồi dạy đi dạy lại trong suốt 45 năm hóa đạo, và trong những giờ phút cuối đời trước khi nhập diệt (tại rừng Câu-thi-na), Ngài vẫn còn dạy lần chót cho vị đệ tử xuất gia sau cùng là Tu Bạt Đà La.
1. Thấy biết chân chính (chánh kiến).
Thấy biết chân chính là thấy biết vạn pháp (trong đó gồm cả bản thân mình) đúng với tự tính chân thật của chúng. Một cách cụ thể, khi ta nhìn cuộc sống đúng theo cái nhìn của đạo lí “Bốn Sự Thật” (tứ đế), đó là ta có “chánh kiến”; khi ta nhìn vạn sự vạn vật và ta thấy rõ những tính cách vô thường, vô ngã, duyên sinh của chúng, đó là “chánh kiến”. Vậy, chánh kiến là thấy biết đúng với SỰ THẬT, nghĩa là cái thấy không còn bị che phủ bởi vô minh, thành kiến, cố chấp, dục vọng; hay cũng có thể nói, chánh kiến chính là tuệ giác của bậc giác ngộ.
2. Suy nghĩ chân chính (chánh tư duy).
Suy nghĩ chân chính là sự suy nghĩ đặt trên căn bản của sự thật, suy nghĩ đúng với bản tính chân thật của vạn pháp. Ta vận dụng tâm trí để suy nghiệm về vạn pháp đúng với bản chất vô thường, vô ngã, duyên sinh của chúng, đó là “chánh tư duy”. Sự suy tư chân chính sẽ đem lại cho ta những tư tưởng chân chính. Nếu những tư tưởng xấu xa, sai lầm đã làm cho ta trở nên con người thấp hèn, thô lỗ, thì ngược lại, những tư tưởng chân chính, đúng đắn sẽ nâng cao phẩm cách của ta trở thành người trong sạch, cao thượng. Người có tư duy chân chính sẽ thấy rằng vô minh là đầu mối của mọi lỗi lầm và gây ra muôn vàn đau khổ, do đó, họ diệt trừ được tâm tham dục, luyến ái, ích kỉ, sân hận, oán thù, hung bạo, ganh ghét, và thay vào đó, họ sẽ phát triển những tư tưởng vị tha, thiện chí, ôn hòa, thương yêu, giúp đỡ...
3. Nói năng chân chính (chánh ngữ). Nói năng chân chính là nói năng đúng với sự thật. Không nói dối chỉ là một khía cạnh của “chánh ngữ”, chứ chưa phải là “chánh ngữ”. Nhiều khi chúng ta không nói dối nhưng vẫn sai với sự thật: chúng ta thấy biết làm sao thì nói làm vậy, nhưng vì cái thấy biết ấy đã bị sai lạc, lầm lẫn, cho nên chúng ta đã nói không đúng với sự thật. Vậy, lời nói chân chính là lời nói không dối trá, không độc ác, không đâm thọc, không thêu dệt và siểm nịnh. Đó là những lời nói không xuất phát từ lòng tham dục, ích kỉ, hận thù, giận dữ, ngu dốt, ganh tị.
Nói năng chân chính là không nói những lời nhằm lừa gạt, nịnh hót, phỉ báng, chửi mắng, sỉ nhục, vu oan, chia rẽ, nghĩa là tất cả những lời nói với dã tâm hại người. Lời nói chân chính là những lời nói từ ái, hòa nhã, dịu dàng, đoàn kết, xây dựng, đem lại an vui, lợi ích và tin tưởng cho mọi người. Chánh ngữ còn là những lời nói thận trọng, khéo léo nhằm hướng dẫn người đi vào nẻo thiện, giúp cho người khai mở trí tuệ, có được cái thấy sáng suốt, cái nhìn chính xác, nếp suy tưởng đúng đắn, phù hợp với thực tại. Vì vậy, ta hiểu sai Phật pháp, cố chấp lí thuyết, hoặc càng nghe càng thấy tối tăm, nghi ngờ, thì đó là tà ngữ, không phải là chánh ngữ.
4. Hành động chân chính (chánh nghiệp).
Có ba loại hành động (tam nghiệp): hành động của ý (ý nghiệp), hành động của miệng (khẩu nghiệp), và hành động của thân (thân nghiệp). Trong pháp số “Bát Chánh Đạo” này, yếu tố chánh nghiệp ở đây chỉ nhằm nói đến thân nghiệp mà thôi, còn ý nghiệp và khẩu nghiệp thì đã được bao hàm trong các yếu tố khác. Tất cả mọi hành động hằng ngày của thân thể đều là thân nghiệp – ngay cả sự ăn uống, tuy là hành động của miệng, nhưng vẫn thuộc thân nghiệp, còn khẩu nghiệp chỉ là sự nói năng mà thôi; vì vậy, khẩu nghiệp cũng được gọi là “ngữ nghiệp”. Hành động chân chính là những hành động không phát xuất từ tham lam, vị kỉ, sân hận, oán thù, ngu si, ganh tị..., bởi vậy, chúng không gây ra đau khổ cho người khác, không phá hoại hạnh phúc của mọi người, không tàn hại người, vật và thiên nhiên. Hành động chân chính là những hành động được soi sáng bởi chánh kiến, chánh tư duy..., được thúc đẩy bởi tình thương, sự hiểu biết, lòng cởi mở, tính vị tha, và chắc chắn sẽ đem lại an vui, hạnh phúc,






