Trang 02
Chủ nhật, 31/07/2016, 20:34
PHẨM KIỀU TRẦN NHƯ THỨ HAI MƯƠI LĂM
Trang 02
Lại có Phạm Chí tên Thanh Tịnh lên tiếng rằng: “Thưa Cù Đàm! Do chẳng biết pháp gì mà tất cả chúng sinh thấy thế gian là thường, là vô thường, cũng thường, cũng vô thường, chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, nhẫn đến chẳng phải như mà đi, chẳng phải chẳng như mà đi?”.
- Này Thiện Nam Tử! Vì chẳng biết sắc, nhẫn đến chẳng biết thức nên thấy thế gian là thường, nhẫn đến thấy chẳng phải chẳng như mà đi.
- Thưa Cù Đàm! Do chúng sinh biết pháp gì mà chẳng thấy thế gian là thường nhẫn đến chẳng thấy chẳng phải, chẳng như mà đi?
- Này Thiện Nam Tử! Vì biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức nên chẳng thấy thế gian là thường nhẫn đến chẳng thấy chẳng phải chẳng như mà đi.
- Bạch Thế Tôn! Xin vì tôi mà giải thuyết thế gian là thường cùng vô thường.
- Này Thiện Nam Tử! Nếu người bỏ nghiệp cũ chẳng gây tạo nghiệp mới, người này có thể biết thường cùng vô thường.
- Bạch Thế Tôn! Tôi đã hiểu biết.
- Này Thiện Nam Tử! Ông thấy biết thế nào?
- Bạch Thế Tôn! Cũ là nói vô minh cùng ái, mới là nói thủ và hữu. Nếu người xa lìa vô minh ái này mà chẳng gây tạo thủ và hữu, người này thật biết thường và vô thường.
Nay tôi đã được pháp nhẫn thanh tịnh quy y Tam Bảo. Xin đức Như Lai cho tôi xuất gia.
Phật bảo Kiều Trần Như cho Phạm Chí Thanh Tịnh này xuất gia.
Ngài Kiều Trần Như tuân lời Phật, dắt Thanh Tịnh đến trong Tăng làm pháp Yết Ma cho xuất gia. Sau đó mười lăm ngày, Tỳ Kheo Thanh Tịnh dứt hết phiền não chứng quả A La Hán.
Phạm Chí Độc Tử thưa rằng: “Thưa Cù Đàm! Nay tôi muốn hỏi ngài có cho phép chăng?”.
Đức Như Lai nín lặng.
Thưa lần thứ hai lần thứ ba, Đức Như Lai vẫn nín lặng.
Độc Tử thưa rằng: “Từ lâu tôi cùng ngài vẫn là thân hữu, ngài cùng tôi nghĩa không có khác, nay tôi muốn hỏi han, cớ sao ngài lại nín lặng?”.
Lúc đó Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “ Phạm Chí này tính tình nho nhã thuần thiện ngay thẳng. Thường vì muốn hiểu biết mà đến thưa hỏi, chẳng phải vì não loạn. Nếu ông ấy có hỏi ta nên tùy ý đáp”.
Suy nghĩ xong Phật nói rằng: Lành thay! Lành thay! Ông cứ theo chỗ nghi mà hỏi ta sẽ giải đáp cho.
Độc Tử thưa rằng: “Thế gian có pháp lành chăng?”.
- Này Phạm Chí! Thế gian có pháp lành.
- Thưa Cù Đàm! Thế gian có pháp chẳng lành chăng?
- Này Phạm Chí! Thế gian có pháp chẳng lành.
- Xin Cù Đàm vì tôi mà giảng nói, cho tôi biết pháp lành và pháp chẳng lành.
- Này Thiện Nam Tử! Ta có thể phân biệt giảng rộng nghĩa đó. Nay sẽ vì ông mà nói lược.
- Này Thiện Nam Tử! Dục gọi là pháp chẳng lành, giải thoát dục gọi là pháp lành. Sân cùng si cũng như vậy. Sát sinh là pháp chẳng lành, chẳng sát sinh là pháp lành, nhẫn đến tà kiến cũng như vậy.
Này Thiện Nam Tử! Ta đã vì ông mà nói ba thứ pháp lành cùng chẳng lành và nói mười thứ pháp lành cùng chẳng lành. Nếu hàng đệ tử của ta có thể hiểu biết ba thứ nhẫn đến mười thứ pháp lành cùng chẳng lành như vậy, phải biết rằng người này có thể dứt hết tham sân, si tất cả phiền não, dứt tất cả quả báo sinh tử.
- Thưa Cù Đàm! Trong Phật pháp có một Tỳ Kheo nào được như vậy chăng?
- Này Thiện Nam Tử! Trong Phật pháp chẳng phải chỉ có một hai người nhẫn đến trăm ngàn người, mà có vô lượng Tỳ Kheo dứt được tham, sân, si tất cả phiền não, tất cả quả báo sinh tử như vậy.
- Thưa Cù Đàm ! Trong Phật pháp có một Tỳ Kheo Ni nào được như vậy chăng?
- Này Thiện Nam Tử! Trong Phật pháp đây cũng có vô lượng Tỳ Kheo Ni dứt được tham, sân, si tất cả phiền não, tất cả quả báo sinh tử.
- Thưa Cù Đàm! Trong Phật pháp có Ưu Bà Tắc nào siêng năng giữ giới dứt được lưới nghi chăng?
- Này Thiện Nam Tử! Trong Phật pháp của ta có vô lượng Ưu Bà tắc tinh tấn giữ giới thanh tịnh, dứt được năm phẩm kiết sử bậc hạ, được quả A Na Hàm, dứt được lưới nghi.
- Thưa Cù Đàm! Trong Phật pháp có Ưu Bà Di nào tinh cần trì giới thanh tịnh dứt được lưới nghi chăng?
- Này Thiện Nam Tử! Trong Phật pháp ta có vô lượng Ưu Bà Di tinh cần trì giới thanh tịnh dứt năm phẩm kiết sử bậc hạ, dứt được lưới nghi, chứng quả A Na Hàm.
- Thưa Cù Đàm! Ngoài những vị trên, trong Phật pháp có Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di nào hưởng lạc thú ngũ dục mà tâm dứt được lưới nghi chăng?
- Này Thiện Nam Tử! Trong Phật pháp ta vô lượng Ưu Bà Tắc cũng như Ưu Bà Di dứt ba phẩm kiết sử được quả Tu Đà Hoàn. Người tham, sân, si mỏng thời được quả Tư Đà Hàm.
- Bạch Thế Tôn! Nay tôi thích nói thí dụ, xin ngài cho phép.
- Lành thay! Ông thích nói thời cứ nói.
- Bạch Thế Tôn! Như Long Vương Nan Đà và Bạt Nan Đà bình đẳng mưa to. Pháp dụ của Như Lai cũng như vậy, bình đẳng mưa xuống hàng Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di.
Bạch Thế Tôn! Nếu hàng ngoại đạo muốn đến Phật pháp để xuất gia, chẳng rõ đức Như Lai thử họ trong mấy tháng?
- Này Thiện Nam Tử! Thử họ trong bốn tháng, nhưng bất tất hết thảy đều một hạng.
- Bạch Thế Tôn! Nếu chẳng đều một hạng, xin đức Đại Từ cho tôi xuất gia.
Đức Thế Tôn bảo Kiều Trần Như cho Độc Tử xuất gia thọ giới.
Sau đó mười lăm ngày, Độc Tử được quả Tu Đà Hoàn.
Độc Tử nghĩ rằng nếu người có trí huệ do nơi học mà được, nay tôi đã được có thể đến ra mắt Phật.
Liền đến lễ Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Những người có trí huệ từ nơi học mà được, nay tôi đã được. Xin đức Thế Tôn vì tôi mà giảng thuyết cho tôi được trí huệ vô học.
- Này Thiện nam Tử! Ông nên tinh tấn tu tập hai pháp: Chỉ và quán. Nếu có Tỳ Kheo muốn được quả Tu Đà Hoàn cũng phải siêng tu tập hai pháp như vậy. Nếu muốn được Tư Đà Hàm, A Na hàm, A La Hán cũng phải tu tập hai pháp như vậy.
Này Thiện Nam Tử! Nếu có Tỳ Kheo muốn được tứ thiền, tứ vô lượng tâm, lục thần thông, bát bội xả, bát thắng xứ, vô tránh trí, đảnh trí, tất cánh trí, tứ vô ngại trí, kim cang tam muội, tận trí, vô sinh trí, cũng phải tu tập hai pháp như vậy.
Này Thiện Nam Tử! Nếu muốn được bậc Thập Trụ, vô sinh pháp nhẫn, vô tướng pháp nhẫn, bất khả tư nghì pháp nhẫn, thánh hạnh, phạm hạnh, thiên hạnh, Bồ Tát hạnh, hư không tam muội, trí ấn tam muội, không vô tướng vô tác tam muội, địa tam muội, bất thối tam muội, Thủ Lăng Nghiêm tam muội, Kim Cang tam muội, vô thượng Bồ Đề Phật hạnh, cũng phải tu tập hai pháp như vậy.
Độc Tử nghe xong lễ Phật lui ra, ở trong rừng Ta La tu tập hai pháp chỉ quán, chẳng bao lâu được quả A La Hán.
Lúc đó lại có vô lượng Tỳ Kheo muốn đến chỗ Phật. Độc Tử hỏi rằng: Chư Đại Đức muốn đến đâu?
Các Tỳ Kheo nói: Chúng tôi muốn đến Phật.
Độc Tử lại nói: Nếu chư Đại Đức đến chỗ Phật xin vì tôi bạch cùng Phật rằng Độc Tử Tỳ Kheo đã tu tập hai pháp chỉ quán được trí vô học, nay báo ơn Phật mà nhập Niết Bàn.
Các Tỳ Kheo đem lời này đến bạch cùng Phật.
Phật bảo các Tỳ Kheo: Này các Thiện Nam Tử ! Độc Tử đã được quả A La Hán, các ông nên đến cúng dường thân thể của Độc Tử.
Các Tỳ Kheo tuân lời Phật trở về cúng dường thi hài của Độc Tử.
Nạp Y Phạm Chí lại lên tiếng hỏi Phật: Thưa Cù Đàm! Như lời Cù Đàm nói trong vô lượng đời làm điều lành điều chẳng lành, đời vị lai trở lại được thân lành thân chẳng lành. Theo ý tôi, lời trên đây không đúng.
Vì như Cù Đàm từng nói nhân phiền não mà cảm lấy thân này. Đã nhân nơi phiền não mà có thận, thời thân có trước hay phiền não có trước? Nếu phiền não có trước thời ai làm và ở chỗ nào? Nếu thân có trước thời sao lại nói nhân phiền não mà có thân? Do đây nên nếu nói phiền não ở trước hay thân ở trước đều không được. Nếu nói đồng một thời cũng chẳng được. Thế là hoặc trước, hoặc sau, hoặc đồng một thời, đều chẳng được. Do đây nên tôi nói tất cả pháp đều có tự tính chẳng phải từ nơi nhân duyên.
Thưa Cù Đàm! Lại cứng là tính của địa đại, ướt là tính của thủy đại, nóng là tính của hoả đại, động là tính của phong đại, không chướng ngại là tính của hư không, tính của năm đại này chẳng phải từ nhân duyên mà có. Nếu trong thế gian có tính của một pháp chẳng phải từ nhân duyên mà có, thời tính của tất cả pháp cũng phải như vậy. Nếu có một pháp từ nơi nhân duyên, cớ gì tính của ngũ đại lại chẳng từ nơi nhân duyên?
Thưa Cù Đàm! Chúng sinh mà có thân lành, thân chẳng lành, hoặc được giải thoát đều là tự tính cả, chẳng phải từ nơi nhân duyên. Nên tôi nói rằng tất cả các pháp do tự tính mà có, chẳng phải là nhân duyên sinh.
Thưa Cù Đàm! Pháp thế gian có chỗ dùng nhất định, như người thợ nói cây này có thể làm xe cộ, cây này có thể làm cửa, làm ván, làm giừơng, làm ghế. Lại như thợ kim hoàn làm ra những đồ trang sức: Đội trên trán thờigọi là tràng, đeo dưới cổ thời gọi là chuỗi, đeo trên tay thời gọi là xuyến, đeo nơi ngón tay thời gọi là nhẫn. Vì chỗ dùng nhất định nên gọi là định tính. Do đây biết rằng tất cả chúng sinh cũng như vậy: Vì có tính ngũ đạo nên có địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nhân, thiên. Nếu đã như vậy sao lại nói rằng từ nơi nhân duyên.
Thưa Cù Đàm! Lại tất cả chúng sinh tính của họ đều khác, nên gọi là tất cả tự tính. Như con rùa sinh trên đất cao mà nó tự có thể lặn xuống nước, bò con lúc sinh ra nó tự có thể uống sữa, cá thấy mồi tự nhiên nuốt ăn, rắn độc lúc sinh ra tự nhiên ăn đất, những việc như vậy có ai dạy bảo? Như gai sinh ra tự nhiên đầu nhọn, lông cánh của loài chim bay tự nhiên có màu sắc riêng khác. Chúng sinh trong thế gian cũng như vậy: Có khôn lanh, có đần độn, có giàu, có nghèo, có đẹp, có xấu, có người được giải thoát, có kẻ chẳng được. Do đây nên biết trong tất cả pháp đều riêng có tự tính.
Thưa Cù Đàm! Lại như ngài từng nói tham, sân, si từ nơi nhân duyên mà sinh, ba món độc này do nơi năm trần làm duyên. Theo ý tôi lời trên đây không đúng.
Vì chúng sinh lúc ngủ xa lìa năm trần mà cũng vẫn sinh tham, sân, si. Lúc ở trong thai cũng vậy. Lúc mới ra khỏi thai chưa phân biệt được năm trần là tốt hay xấu mà cũng sinh lòng tham, sân, si. Các vị Tiên Nhân ở nơi chỗ vắng vẻ. Không có ngũ trần mà cũng sinh tham, sân, si. Lại cũng có người nhân nơi năm trần mà sinh vô tham, vô sân, vô si. Do đây nên bất tất từ nơi nhân duyên sinh ra tất cả pháp, vì tự tính nó sẵn như vậy.
Thưa Cù Đàm! Tôi lại thấy trong đời có người căn thân chẳng đầy đủ mà giàu có thế lực lớn, có người thân thể hoàn bị mà nghèo cùng hèn hạ làm tôi làm tớ. Nếu có nhân duyên cớ sao lại như vậy? Do đây nên các pháp đều riêng có tự tính chẳng phải do nhân duyên.
Thưa Cù Đàm! Trong đời những trẻ nhỏ chưa phân biệt được năm trần, chúng nó hoặc cười hoặc khóc. Lúc cười biết nó mừng, lúc khóc biết nó buồn. Do đây nên biết tất cả pháp đều riêng có tự tính.
Thưa Cù Đàm! Thế pháp có hai: Có và không. Có là hư không, không là sừng thỏ. Hư không vì là có nên chẳng từ nơi nhân duyên, sừng thỏ vì là không nên cũng chẳng từ nơi nhân duyên. Do đây nên biết các pháp cótự tính chẳng từ nơi nhân duyên.
Phật nói: “Này Thiện Nam Tử! Như lời ông nói tất cả pháp cũng như tính của năm đại. Nghĩa này không đúng.
Vì như trong pháp của ông cho năm đại là thường, duyên cớ gì mà tất cả pháp đều chẳng phải là thường? Nếu sự vật trong đời là vô thường, tính của năm đại này duyên cớ gì chẳng phải vô thường. Nếu năm đại là thường thời lẽ ra sự vật trong đời cũng là thường. Do đây nên ông nói tính của năm đại vì có tự tính chẳng từ nơi nhân duyên, khiến tất cả pháp đồng như năm đại, thời không đúng nghĩa.
Này Thiện Nam Tử! Ông nói vì chỗ dùng nhất định nên có tự tính, nghĩa này không đúng. Vì tất cả đồ dùng đều từ nơi nhân duyên mà được có danh tự, nếu đã từ nhân duyên có danh tự thời cũng từ nhân duyên mà có nghĩa.
Thế nào gọi là từ nhân duyên mà có danh tự? Như đồ trang sức ở trên trán thời tên là tràng, ở dưới cổ thời tên là chuổi, ở nơi tay thời gọi là xuyến, và như ở nơi xe thời tên là bánh xe, lửa ở nơi cỏ cây thời tên là lửa cỏ lửa cây.
Này Thiện Nam Tử! Cây gỗ lúc mới sinh không có tính mũi tên và cây lao. Vì từ nơi nhân duyên thợ đẽo làm mũi tên, vì từ nơi nhân duyên thợ đẽo làm cây lao. Do đây chẳng nên nói rằng tất cả pháp là có tự tính.
Này Thiện Nam Tử! Ông nói như con rùa sinh trên đất mà tính tự nó có thể lặn xuống nuớc, bò con mới sinh ra tính nó có thể uống sửa, lời này không đúng. Vì nó chẳng phải nhân duyên mà rùa tự xuống nước, sao rùa lại chẳng vào lửa? Đây là vì điều chẳng phải nhân duyên. Bò con lúc sinh ra chẳng từ nơi nhân duyên mà tính nó tự có thể mút vú, sao bò con chẳng tự mút sừng? Đây là đều chẳng phải nhân duyên cả.
Này Thiện Nam Tử! Nếu nói các pháp đều có tự tính, chẳng cần dạy bảo tập làm, không có thêm lên, lời này không đúng nghĩa. Vì hiện nay thấy có sự dạy bảo, nhân nơi dạy bảo mà được thêm lên. Do đây nên biết rằng không có tự tính.
Này Thiện Nam Tử! Nếu tất cả pháp có tự tính riêng, thời hàng Bà La Môn chẳng nên vì được thân thanh tịnh mà giết dê để cúng tế, nếu đã vì thân mà cúng tế thời nên biết rằng không có tự tính.
Này Thiện Nam Tử! Ngữ pháp của thế gian đại phàm có ba thứ: Muốn làm, lúc làm, làm rồi.Nếu tất cả pháp đều có tự tính cớ sao thế gian lại có ba ngữ pháp này? Đã có ba ngữ pháp này nên biết tất cả pháp đều không có tự tính.
Này Thiện Nam Tử! Nếu nói các pháp đều có tự tính, nên biết các pháp đều có định tính. Nếu có định tính thời một thứ mía duyên cớ gì làm ra mật mía, đường, rượu, rượu đắng. Nếu chỉ có một tự tính duyên cớ gì lại sinh ra nhiều vị như vậy?
Nếu trong một thứ mà sinh ra nhiều thứ thời nên biết rằng các pháp chẳng phải là nhất định riêng có một tự tính.
Này Thiện Nam Tử! Nếu tất cả pháp có tính nhất định, cớ gì thánh nhân uống nước mía, ăn đường, lúc thành rượu thời chẳng uống, lúc thành rượu đắng lại uống? Do đây nên biết không có tính nhất định. Nếu đã không tính nhất định tại sao lại chẳng phải từ nhân duyên mà có?
Này Thiện Nam Tử! Ông nói tất cả pháp đều có tự tính, tại sao ông lại nói thí dụ? Nếu đã có thí dụ thời nên biết rằng các pháp không có tự tính. Người trí trong đời đều nói thí dụ, nên biết rằng các pháp không có tự tính không có tính nhất định.
Này Thiện Nam Tử! Ông gạn hỏi thân có trước hay phiền não có trước, lời hỏi này không đúng. Vì nếu ta nói thân có trước, ông mới nên vấn nạn. Ông cũng đồng như ta cho thân chẳng có trước cớ gì lại vấn nạn như vậy.
Này Thiện Nam Tử! Tất cả chúng sinh, thân cùng phiền não đều không có trươc sau, là đồng một thời mà có. Dầu đồng một thời nhưng phải nhân nơi phiền não mà được có thân, trọn chẳng nhân nơi thân mà có phiền não.
Nếu trong ý ông cho rằng như đôi mắt của người đồng thời mà có, mắt tả chẳng nhân hữu, mắt hữu chẳng nhân mắt tả, phiền não và thân cũng như vậy. Ý ngĩ này chẳng đúng. Vì trong đời con mắt ngó thấy ngọn đèn cùng ánh sáng dầu là đồng một thời, nhưng anh sáng cần phải nhân nơi ngọn đèn, chẳng phải nhân nơi ánh sáng mà có ngọn đèn.
Này Thiện nam Tử! Nếu ý ông cho rằng vì thân chẳng có trước nên biết là không nhân duyên ý này chẳng đúng. Vì nếu cho rằng trước thân không có nhân duyên nên gọi là không, thời ông chẳng nên nói tất cả các pháp không có nhân duyên. Nếu nói vì chẳng thấy nên chẳng nói, nay thấy cái bình v.v… từ nơi nhân duyên mà có, cớ sao chẳng nói như cái bình, nhân duyên ở trước thân cũng như vậy.
Này Thiện Nam Tử! Thấy cùng chẳng thấy, tất cả các pháp có ra đều từ nơi nhân duyên, không có tự tính.
Này Thiện Nam Tử! Nếu nói tất cả pháp đều có tự tính không do nhân duyên, cớ gì ông lại nói năm đại? Tính của năm đại này chính là nhân duyên. Dầu năm đại là nhân duyên như vậy, cũng chẳng nên nói rằng các pháp đều đồng năm đại làm nhân duyên. Như người đời nói tất cả người xuất gia tinh tấn trì giới, bọn Chiên Đà La cũng phải tinh tấn trì giới như vậy.
Này Thiện Nam Tử! Ông nói năm đại có tính chắc nhất định. Theo ta thấy thời tính này chuyển biến chẳng nhất định. Tô, bạch lạp, hồ giao, những thứ này trong pháp của ông gọi là địa, địa này chẳng nhất định, hoặc đồng với nước, hoặc đồng với đất, nên chẳng được nói rằng tự tính cứng chắc.
Này Thiện nam Tử! Nhôm, chì, kẽm, đồng, sắt, vàng, bạc, những thứ này trong pháp của ông gọi là hỏa. Hỏa này có bốn tính: Lúc chảy là tính nước, lúc động là tính gió, lúc nóng là tính lửa, lúc cứng là tính đất, sao lại nói rằng nhất định gọi là hỏa tính.
Này Thiện Nam Tử! Tính của nước gọi là chảy, nếu lúc nước đông cứng chẳng gọi là địa mà gọi là hỏa tính, cớ gì lúc sóng động chẳng gọi là phong? Nếu nổi sóng chẳng gọi là phong, thời lúc đông đặc cũng chẳng nên gọi là hỏa. Nếu bốn tính này từ nơi nhân duyên, cớ sao nói rằng tất cả pháp chẳng từ nơi nhân duyên?
Này Thiện Nam Tử! Nếu nói rằng năm căn, vì tính nó hay thấy, nghe, giác, xúc, nên đều là có tự tính chẳng từ nơi nhân duyên. Lời này không đúng nghĩa. Vì tính của tự tính là không thể chuyển đổi. Nếu nói tính của nhãn căn là thấy, lẽ ra phải thường thấy, chẳng nên có lúc thấy có lúc chẳng thấy. Do đây nên biết rằng nhãn căn thấy là có nhân duyên, chẳng phải không nhân duyên.
Này Thiện Nam Tử! Ông nói chẳng phải nhân nơi trần mà có tham cùng giải thoát, lời này không đúng nghĩa. Vì dầu chẳng phải do nơi năm trần mà có tham cùng giải thoát, nhưng vì ác giác quán thời sinh tham dục, vì thiện giác quán thời được giải thoát. Do nội nhân duyên mà có tham cùng giải thoát, do ngoại nhân duyên mà hai món này được tăng trưởng. Do đây nên lời ông nói tất cả pháp đều riêng có tự tính, chẳng nhân nơi năm trần sinh tham và giải thoát, là không đúng nghĩa.
Này Thiện Nam Tử! Ông nói người thân thể đầy đủ lại nghèo thiếu chẳng tự do, người tàn tật thời giàu có tự do, nhân đây chứng minh là có tự tính, chẳng từ nơi nhân duyên. Lời này chẳng đúng.
Này Thiện Nam Tử! Chúng sinh do nơi nghiệp mà có quả báo. Quả báo này có ba: Hiện báo, sinh báo và hậu báo. Những người nghèo cùng giàu có, lành lặn hay tàn tật, đều do nghiệp riêng khác. Nếu là có tự tính, người lành lặn lẽ ra phải giàu có, người giàu có lẽ ra phải lành lặn. Nay chẳng như vậy, nên biêt rằng không có tự tính, mà đều từ nơi nhân duyên.
Này Thiện Nam Tử! Ông nói trẻ nhỏ chưa phân biệt được năm trần mà cũng khóc cũng cười, để chứng minh tất cả đều có tự tính. Lời này chẳng đúng. Vì nếu có tự tính lẽ ra cười phải thường cười, khóc phải thường khóc, chẳng nên một cười một khóc. Nếu đã một cười một khóc, thời biết rằng tất cả đều từ nhân duyên. Do đây chẳng nên nói rằng tất cả pháp đều có tự tính chẳng từ nơi nhân duyên.
Phạm Chí nói: Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp từ nhân duyên mà có, thân thể này từ nhân duyên nào?
- Này Thiện Nam Tử! Phiền não cùng nghiệp là nhân duyên của thân này.
- Bạch Thế Tôn! Như thân này từ nơi phiền não và nghiệp mà có, vậy phiền não và nghiệp này có thể dứt được chăng ?
- Có thể dứt được.
- Bạch Thế Tôn! Xin vì tôi giải nói, cho tôi được nghe liền đây đều dứt đượcphiền não và nghiệp.
- Này Thiện nam Tử! Nếu rõ biết hai bên và chặn giữa không chướng ngại, thời người này có thể dứt phiền não và nghiệp.
- Bạch Thế Tôn! Tôi đã hiểu biết, đã được chính pháp nhãn.
- Ông biết thế nào?
- Bạch Thế Tôn! Hai bên là sắc và sắc giải thoát, trung gian chính là bát chính đạo. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
- Lành thay! Lành thay! Này Thiện Nam Tử! Ông biết rõ hai bên phiền não và nghiệp.
- Bạch Thế Tôn! Xin cho tôi xuất gia.
- Thiện Lai Tỳ Kheo!
Liền đó Nạp Y Phạm Chí dứt trừ phiền não trong ba cõi được quả A La Hán.
Lại có Bà La Môn Hoằng Quảng nói rằng: Cù Đàm biết tâm niệm hiện tại của tôi chăng?
Phật nói: Này Thiện Nam Tử! Niết Bàn là thường, hữu vi là vô thường, cong là tà kiến, ngay là thánh đạo.
- Cớ gì Cù Đàm nói như vậy?
- Này Thiện Nam Tử! Ý của ông thường cho rằng khất thực là thường, biệt thỉnh là vô thường, cong là cửa khóa, ngay là tràng của Thiên Đế. Do đây nên ta nói những lời vừa rồi, chẳng phải như chỗ suy nghĩ của ông.
- Cù Đàm thiệt biết được tâm niệm của tôi. Bát chính đạo đó có thể làm cho chúng sinh, tất cả đều được tận diệt chăng?
Đức Thế Tôn nín lặng.
- Cù Đàm đã biết tâm niệm của tôi, nay tôi hỏi sao lại nín lặng mà chẳng đáp ?
Lúc đó Kiều Trần Như liền nói: Này Đại Bà La Môn! Nếu có người hỏi thế gian là hữu biên hay vô biên, thời Đức Như Lai thường nín lặng.
- Này Đại Bà La Môn! Bát thánh đạo là ngay, Niết Bàn là thường, nếu tu bát thánh dạo thời được diệt tận, nếu chẳng tu tập thời chẳng được.
Như thành lớn kia bốn vách chỉ có một cửa, người giữ cửa rất thông minh kẻ đáng cho đi thời cho, kẻ đáng ngăn thời ngăn lại, người này dầu chẳng biết được số người ra vào nhiều ít nhưng chắc chắn biết rằng tất cả người ra vào đều phải do người này.
Này Đại Bà La Môn! Đức Như Lai cũng như vậy. Thành lớn dụ cho Niết Bàn, cửa dụ bát chính đạo, người giữ cửa dụ Đức Như Lai.
Nay Đức Như Lai dầu chẳng trả lời là diệt tận cùng chẳng diệt tận, nhưng người được diệt tận, cần phải tu tập bát chính đạo này.
Lành thay! Lành thay! Đại Đức Kiều Trần Như! Đức Như Lai khéo nói pháp vi diệu. Nay tôi thiệt muốn biết thành lớn, biết đạo, tự mình làm người giữ cửa.
Kiều Trần Như nói: Lành thay! Lành thay! Ông có thể phát tâm vô thượng rộng lơn.
Phật nói: Này Kiều Trần Như! Ông Bà La Môn Hoằng Quảng này chẳng phải mới phát tâm vô thượng. Thuở quá khứ cách đây vô lượng kiếp có Phật ra đời hiệu là Phổ Quang Minh đầy đủ mười hiệu, ông Hoằng Quảng này ở chỗ Đức Phật đó đã phát tâm vô thượng Bồ Đề. Trong Hiền Kiếp này Hoằng Quảng sẽ được thành Phật. Ông ấy từ đâu đã thông đạt pháp tướng, vì chúng sinh mà hiện ở ngoại đạo. Do đây nên Kiều Trần Như chẳng nên khen ông ấy là hiện nay có thể phát tâm vô thượng.
Lúc đó đức Thế Tôn đã biết mà hỏi Kiều Trần Như rằng: “A Nan Tỳ Kheo nay ở đâu?”.
Kiều Trần Như thưa: “Bạch Thế Tôn! A Nan Tỳ Kheo ở ngoài rừng Ta La, cách đại hội này mười hai do tuần, đương bị sáu muôn bốn ngàn ức thiên ma nhiễu loạn. Chúng thiên ma này đều tự biến thân làm hình Như Lai mà tuyên nói những pháp khác nhau, hoặc lại thị hiện thần thông biến hóa.
Bạch Thế Tôn! A Nan Tỳ Kheo nghe và thấy những việc này nghĩ rằng những thần thông biến hóa từ trước chưa từng thấy. Ai làm ra? Hoặc giả Đức Thích Ca Thế Tôn hiện ra chăng? A Nan muốn đứng dậy muốn nói, mà thân thể không theo ý muốn. A Nan lọt vào trong rọ của ma, tự nghĩ rằng: Chư Phật nói pháp riêng khác chẳng đồng, nay tôi nên lãnh thọ lời của Đức Phật nào?
Bạch Thế Tôn! Hiện nay A Nan rất khổ sở, dầu nghĩ nhớ Đức Như Lai mà không ai cứu thoát, do đó nên chẳng đến trong đại chúng này.
Lúc đó Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Trong đại chúng này có hàng Bồ Tát đã từ một đời đến vô lượng đời phát tâm Bồ Đề, đã cúng dường vô lượng chư Phật, tâm chí bền chắc tu hành đầy đủ sáu môn Ba La Mật, trọn nên công đức lớn, từ lâu đã gần gũi vô lượng chư Phật, phạm hạnh thanh tịnh, tâm Bồ Đề chẳng thối chuyển, đặng nhẫn bất thối, trì bất thối, được như pháp nhẫn, Thủ Lăng Nghiêm v.v… vô lượng Tam Muội. Hàng Bồ Tát này nghe kinh Đại Thừa trọn chẳng sinh nghi mà có thể khéo phân biệt, tuyên nói Tam Bảo đồng một tính tướng thường trụ bất biến. Nghe pháp bất tư nghì chẳng kinh sợ, nghe các pháp không lòng chẳng rúng động, thông đạt rành rẽ tất cả pháp tính, thọ trì được tất cả mười hai bộ kinh và hiểu rõ ý nghĩa, cũng có thể thọ trì mười hai bộ kinh của vô lượng chư Phật.
Hàng Bồ Tát này lo gì chẳng thọ trì được kinh Đại Niết Bàn này, cớ gì Đức Như Lai lại hỏi Kiều Trần Như A Nan ở đâu?
Đức Thế Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Lóng nghe! Lóng nghe! Này Thiện Nam Tử! Ngày trước ta thành Phật đã trải qua ba mươi năm, lúc ở thành Vương Xá, ta có bảo các Tỳ Kheo rằng nay trong đại chúng này ai có thể vì ta mà thọ trì mười hai bộ kinh, và cung cấp hầu hạ cho ta, cũng khiến nơi mình chẳng mất lợi lành. Lúc đó Kiều Trần Như đến bạch với ta để lãnh. Ta bảo Kiều Trần Như đã già yếu cần phải có người hầu hạ, sao lại muốn hầu hạ ta. Lúc đó Xá Lợi Phất cũng đến lãnh, ta cũng bảo Xá Lợi Phật như đã bảo Kiều Trần Như. Lần lượt đến năm trăm vị A La Hán, ta đều chẳng nhận làm thị giả.
Lúc đó Đại Mục Kiền Liên liền nhập chính định quán sát biết ý của Phật muốn A Nan làm thị giả liền xuất định nói với Kiều Trần Như.
Lúc đó Kiều Trần Như cùng năm trăm A La Hán đến nói với A Nan rằng: “Này A Nan! Nay ông nên làm thị giả cho Đức Như Lai, nên đến thưa với Đức Như Lai để nhận lấy việc ấy”.
A Nan nói: “Thưa chư Đại Đức! Thiệt tôi chẳng kham hầu hạ Như Lai. Vì Đức Như Lai tôn trọng như Sư Tử Vương, như rồng, như lửa, tôi thời yếu đuối nhơ nhớp đâu có thể kham được”.
Các A La Hán khuyên bảo A Nan đến lần thứ ba, A Nan vẫn từ chối.
Đại Mục Kiền Liên nói rằng: Này A Nan, nay ông chưa rõ biết duyên cớ.
An Nan thưa: Bạch Đại Đức xin nói cho.
Đại Mục Kiền Liên nói: Vừa rồi, đức Như Lai cầu thị giả, năm trăm A La Hán đều xin lãnh mà Đức Như Lai chẳng bằng lòng. Tôi nhập định thấy ý của Như Lai muốn cho ông làm. Sao ông trở lại chẳng chịu.
A Nan nghe xong liền quỳ chắp tay thưa rằng : Bạch Chư Đại Đức! Nếu có việc như vậy, Đức Thế Tôn cho tôi ba điều nguyện, tôi sẽ tuân mạng lịnh chư Tăng mà làm thị giả.
Một là giả sử Đức Như Lai đem y cũ ban cho tôi, xin cho phép tôi chẳng nhận. Hai là giả sử Đức Như Lai thọ biệt thỉnh của đàn việt, xin cho phép tôi chẳngđi theo. Ba là xin cho phép tôi ra vào không luận là giờ khắc nào.
Nếu Đức Thế Tôn bằng lòng ba điều nguyện này, thời tôi xin tuân mạng lịnh chư Tăng mà làm thị giả cho Như Lai.
Kiều Trần Như cùng năm trăm A La Hán đem việc trên mà bạch lại với Phật.
Đức Phật Thế Tôn khen ngợi A Nan rằng: “Lành thay! Lành thay! A Nan Tỳ Kheo có đủ trí huệ dự thấy mà tránh trước sự cơ hiềm. Vì sẽ có người cho rằng vì y thực mà A Nan hầu hạ Đức Như Lai, nên A Nan xin phép chẳng lãnh y cũ và chẳng theo Phật thọ biệt thỉnh. Lại A Nan có đủ trí huệ, biết rằng nếu ra vào có giờ thời không thể làm lợi ích rộng cho bốn bộ chúng, nên A Nan xin phép ra vào không luận giờ nào.
Ta bằng lòng cho phép A Nan ba điều như A Nan đã xin.
Đại Mục Kiền Liên trở lại bảo A Nan rằng: “Chúng tôi đã đem lời ông yêu cầu bạch lên Đức Như Lai. Đấng Đại Từ đã bằng lòng”.
A Nan thưa: “Bạch Đại Đức! Nếu Như Lai đã bằng lòng, tôi xin qua làm thị giả.
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: “Hơn hai mươi năm nay, A Nan hầu hạ ta có đủ tám điều chẳng thể nghĩ bàn”.
Một là hơn hai mươi năm, A Nan không bao giờ theo ta thọ biệt thỉnh. Hai là không bao giờ lãnh lấy y cũ của ta. Ba là không bao giờ đến ta mà phi thời. Bốn là dầu còn đủ phiền não nhưng khi theo ta vào cung vua, đến nhà sang giàu, thấy các người nữ, thiên nữ, long nữ, A Nan không bao giờ có dục tâm. Năm là mười hai bộ kinh của ta nói ra, nghe qua một lần A Nan đều nhớ rõ chẳng cần hỏi lại, như nước trong bình này rót qua bình kia, chỉ trừ một lần hỏi: Thuở Lưu Ly Thái Tử giết hại họ Thích Ca, phá thành Ca Tỳ La, A Nan buồn khổ khóc lóc đến bạch với ta rằng tôi cùng Như Lai đồng sinh trưởng trong thành này, đồng một họ Thích, tại sao dung nhan của Như Lai như thường, mà tôi thời tiều tụy. Ta đáp A Nan rằng vì ta tu không định nên chẳng đồng như ông.
Ba năm sau, A Nan trở lại hỏi ta rằng: Bạch Thế Tôn! Tôi qua thành Ca Tỳ La kia từng nghe Đức Như Lai tu không Tam Muội, việc đó là hư hay thật? Ta bảo A Nan đúng như vậy. Sáu là từ khi hầu hạ ta đến nay, dầu chưa được tha tâm trí, mà A Nan thường biết những chính định của Như Lai nhập. Bảy là từ khi hầu ta đến nay, dầu chưa được nguyện trí, mà A nan có thể biết rõ người này đến chỗ Như Lai hiện tại có thể được bốn quả Sa Môn, người này ngày sau sẽ được, người này sẽ được thân Trời hay thân người. Tám là từ khi hầu ta đến nay, những lời bí mật của Như Lai, A Nan đều biết được cả.
Này Văn Thù Sư Lợi! A Nan Tỳ Kheo có đủ tám điều bất tư nghì như vậy nên ta gọi A Nan là đa văn tạng.
Này Văn Thù Sư Lợi! A Nan lại có đủ tám pháp nên có thể thọ trì hoàn toàn mười hai bộ kinh: Một là tín căn kiên cố, hai là tâm ý chất trực, ba là thân không bệnh, bốn là thường tinh tấn, năm là có đủ niệm tâm, sáu là không kiêu mạn, bảy là thành tựu định ý, tám là có đủ trí huệ do nghe pháp mà sinh.
Này Văn Thù Sư Lợi! Thị giả của Phật Tỳ Bà






