Trang 04
Chủ nhật, 31/07/2016, 16:40
PHẨM CA DIẾP BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI BỐN
Trang 04
- Bạch Thế Tôn! Sắc ấm do phiền não sinh ra như thế nào?
Này Thiện Nam Tử! Phiền não có ba thứ: Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Người trí phải quán sát tội lỗi của ba thứ lậu này. Vì có biết tội thời có thể xa lìa. Như y sư coi mạch biết bệnh rồi mới cho thuốc.
Như dắt người mù đến trong rừng gai rồi bỏ đó mà về, người mù này rất khó ra khỏi rừng dầu được ra khỏi nhưng thân thể phải bị trầy trụa.
Phàm phu trong đời cũng như vậy, vì không biết được tội lỗi của ba món lậu nên đi theo nó. Nếu người nào thấy được tội lỗi của ba món lậu thời có thể xa lìa. Người đã biết tội lỗi dầu có thọ quả báo nhưng quả báo cũng nhẹ nhàng.
Này Thiện Nam Tử! Có bốn hạng người: Một là lúc tạo nghiệp thời nặng, lúc thọ báo thời nhẹ, hai là lúc tạo nghiệp thời nhẹ, lúc thọ báo thời nặng, ba là lúc tạo nghiệp thời nặng, lúc thọ báo cũng nặng, bốn là lúc tạo nghiệp thời nhẹ, lúc thọ báo cũng nhẹ.
Này Thiện Nam Tử! Nếu người có thể quán sát tội lỗi của phiền não thời tạo nghiệp cùng thọ báo đều nhẹ.
Này Thiện Nam Tử! Người có trí nghĩ rằng: Ta nên xa lìa ba thứ lậu như vậy, chẳng nên gây tạo những nghiệp xấu xa như vậy, vì ngày nay ta chưa được giải thoát lục đạo. Nếu ta tu hành phải nương sức này để phá hoại các sự khổ. Suy nghĩ như vậy rồi thời tham sân si của người này kém yếu. Người này thấy phiền não của mình nhẹ nên lòng họ vui mừng, lại nghĩ rằng ta được như vầy đều do công đức tu hành, làm cho ta lìa đặng pháp ác, gần gũi pháp lành, nên hiện tại ta được thấy thánh đạo, vậy ta phải nên siêng năng tu tập thêm. Do công đức siêng năng tu hành, người này xa lìa vô lượng phiền não và thoát khỏi lục đạo luân hồi.
Do đây nên trong khế kinh Phật nói phải quán sát tất cả phiền não hữu lậu và nhân của hữu lậu. Vì người trí nếu chỉ quán hữu lậu mà chẳng quán nhân của hữu lậu thời không thể dứt các phiền não. Vì người trí quán sát hữu lậu do nhân này mà sinh, nay ta dứt nhân này thời lậu chẳng còn sinh. Như y sư trước từ nhân của bệnh thời bệnh chẳng còn. Do đây nên người trí phải trước quán sát nhân, kế đó quán sát quả báo, biết rằng từ nhân lành sinh ra quả lành, từ nhân ác sinh quả ác. Khi rõ biết quả báo rồi thời xa lìa nhân ác. Lại phải quán phiền não nhẹ hay nặng, trước lìa phiền não nặng thời phiền não nhẹ tự mất.
Này Thiện Nam tử! Người trí nếu biết phiền não, biết nhân của phiền não, biết quả báo của phiền não, biết phiền não nhẹ hay nặng, bấy giờ người này siêng năng tu hành chẳng ngừng nghỉ, chẳng hối tiếc, thường gần gũi bạn lành chí tâm nghe pháp để dứt trừ những phiền não như vậy.
Như người bệnh tự biết bệnh nhẹ có thể trị lành, nên dầu uống thuốc đắng vẫn không ăn năn. Người trí siêng tu thánh đạo thường vui mừng chẳng sầu, chẳng nghĩ, chẳng ăn năn.
Này Thiện Nam Tử! Nếu người biết được phiền não, nhân của phiền não, quả báo của phiền não, biết phiền não nhẹ nặng, vì trừ phiền não mà tu thánh đạo, người này chẳng do phiền não sinh sắc thân, cũng chẳng do phiền não sinh thọ, tưởng, hành, thức. Nếu chẳng biết được phiền não v.v… chẳng siêng tu tập, người này từ phiền não sinh thân ngũ ấm.
Này Thiện Nam Tử! Người rõ biết phiền não v.v…vì dứt trừ phiền não mà tu hành thánh đạo, đây chính là đức Như Lai do nhân duyên này nên sắc thân của Như Lai cùng thọ, tưởng, hành, thức, đều là thường trụ.
Kế chẳng biết phiền não v.v…, chẳng tu hành thánh đạo, đây là phàm phu. Do nhân duyên này nên sắc, thọ, tưởng, hành, thức của phàm phu đều là vô thường.
Này Thiện Nam Tử! Người trí trong đời: Tất cả Thánh nhân, Bồ Tát, chư Phật đều nói hai nghĩa trên đây, ta cũng nói hai nghĩa như vậy, do đây nên ta nói rằng chẳng tranh cãi với người trí trong đời, chẳng bị thế pháp làm nhiễm ô.
- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu?
Này Thiện Nam Tử! Do trong tâm có giác quán chẳng lành, nhân nơi duyên ngoài mà sinh ra dục lậu.
Ngày trước lúc ở thành Vương Xá, ta bảo A Nan rằng: Nay ông thọ lấy bài kệ tụng của cô gái này nói. Bài kệ đây là lời của chư Phật quá khứ. Do đây nên tất cả giác quán chẳng lành trong tâm cùng những nhân duyên ngoài gọi đó là dục, đây là dục lậu.
Trừ dục lậu ở cõi dục, những á pháp nơi trong cùng các nhân duyên nơi ngoài của cõi sắc và vô sắc gọi là hữu lậu.
Chẳng thể rõ biết ngã cùng ngã sở, chẳng biện biệt được trong cùng ngoài, đây gọi là vô minh lậu.
Này Thiện Nam Tử! Vô minh là cội gốc của tất cả các lậu, vì tất cả chúng sinh do vô minh nên ức tưởng chấp trước nơi ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới, đây gọi là chúng sinh, cũng gọi là tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo. Do nhân duyên này sinh ra tất cả các lậu. Vì thế nên trong mười hai bộ kinh, ta nói vô minh là nhân của tham sân si.
- Bạch Thế Tôn! Trước kia đức Như Lai nói rằng do chẳng khéo tư duy mà có tham, sân, si. Nay duyên cớ gì mà nói do vô minh?
Này Thiện Nam Tử! Hai pháp đây làm nhân quả lẫn nhau, tăng trưởng lẫn nhau: Chẳng khéo tư duy sinh vô minh, do vô minh nên chẳng khéo tư duy.
Này Thiện nam Tử! Những gì có thể sinh trưởng các phiền não thời đều gọi là nhân duyên của phiền não. Gần gũi những nhân duyên của phiền não như vậy thời gọi là vô minh. Chẳng khéo tư duy dụ như hột giống lên mọng: Hột giống là cận nhân, nước đất là viễn nhân. Phiền não cũng như vậy.
- Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói vô minh tức là lậu, sao lại nói rằng nhân nơi vô minh mà sinh các lậu?
Này Thiện Nam Tử! Vô minh lậu là nội vô minh. Nhân nơi vô minh sinh ra các lậu là nội ngoại nhân. Nếu nói vô minh lậu thời gọi là nội đảo: Chẳng biết vô thường, khổ, không và vô ngã. Nếu nói nhân duyên của tất cả phiền não, đây gọi là chẳng rõ biết ngoài ngã và ngã sở. Nếu nói vô minh lậu, đây gọi là vô thỉ vô chung: Từ nơi vô minh sinh ra ấm nhập giới v.v…
- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là biết nhân của các lậu?
Này Thiện Nam Tử! Người trí nên quán sát rằng: Nhân duyên gì sinh ra phiền não này? Làm hạnh nghiệp gì sinh ra phiền não này? Lúc ở chung với ai sinh ra phiền não này? Ở chỗ nào sinh ra phiền não này? Quán sát việc gì sinh ra phiền não này? Thọ lãnh đồ ăn đồ dùng của ai sinh ra phiền não này? Duyên cớ gì chuyển hạ làm trung, chuyển trung làm thượng? Hạ nghiệp làm trung, trung nghiệp làm thượng?
Bồ Tát lúc quán sát như vậy thời xa lìa được nhân duyên sinh ra các lậu. Lúc quán sát như vậy những phiền não chưa sinh ngăn ngừa làm cho chẳng sinh, nhữngphiền não đã sinh thời trừ diệt được. Do đây nên trong khế kinh ta nói rằng người trí phải quán sát nhân duyên sinh ra phiền não.
- Bạch Thế Tôn! Chúng sinh có một thân làm sao có thể khởi ra các thứ phiền não?
Này Thiện Nam Tử! Như trong một cái chậu đựng nhiều thứ hột giống, lúc có nước mưa thời mỗi hột giống đều tự mọc lên. Chúng sinh cũng như vậy, thân dầu chỉ có một, do nhân duyên tham ái mà có thể sinh trưởng các thứ phiền não.
- Bạch Thế Tôn! Người trí quán sát quả báo như thế nào?
Này Thiện Nam Tử! Người trí nên quán sát nhân duyên của các lậu có thể sinh thân tam đồ, nhân duyên của các lậu được thân nhân thiên, đều là vô thường, khổ, không, vô ngã. Trong thân này có ba thứ khổ, ba thứ vô thường. Nhân duyên của các lậu này có thể làm cho chúng sinh tạo tội ngũ nghịch thọ lấy ác báo, có thể dứt mất căn lành, phạm bốn tội trọng, hủy báng Tam Bảo.
Người trí lại nên quán sát ngày nay ta đã có thân như vầy, chẳng nên sinh khởi những phiền não như vậy để khỏi mang lấy những ác quả.
- Bạch Thế Tôn! Có quả vô lậu. Lúc người trí dứt những quả báo, quả báo vô lậu này có ở trong số bị dứt đây chăng?
Những người đắc đạo có quả vô lậu. Người trí kia cầu quả vô lậu. Tại sao đức Phật nói rằng tất cả người trí nên dứt quả báo. Nếu dứt quả báo thời ngày nay làm sao có các bậc thánh nhân?
Này Thiện Nam Tử! Có lúc đức Như Lai trong nhân mà nói quả, có lúc trong quả mà nói nhân.
Như người đời nói đất sét, chính là cái bình, những sợi chỉ chính là cái áo, đây gọi là trong nhân mà nói quả.
Như người đời nói con bò chính là nước và cỏ, người chính là đồ ăn, đây là trong quả mà nói nhân. Ta cũng ở trong nhân mà nói quả như vậy. Như trong khế kinh trước kia ta từng nói rằng: Ta từ nơi tâm mà thân đến cõi Phạm Thiên, đây gọi là trong nhân mà nói quả. Lục nhập này là nghiệp quá khứ, đây gọi là trong quả mà nói nhân.
Này Thiện Nam Tử! Thật ra tất cả thánh nhân không có quả báo vô lậu. Tất cả thánh nhân tu hành thánh đạo được quả báo chẳng còn sinh các lậu do đây nên gọi là quả báo vô lậu.
Này Thiện Nam Tử! Người trí lúc quán sát như vậy liền dứt hẳn được quả báo của phiền não. Vì dứt quả báo phiền não này mà tu tập thánh đạo: Không vô tướng và vô nguyện. Tu tập thánh đạo này có thể dứt tất cả quả báo của phiền não.
- Bạch Thế Tôn! Tất cả chúng sinh đều do phiền não mà có quả báo. Phiền não chính là ác. Từ phiền não ác sinh ra phiền não cũng gọi là ác. Phiền não như vậy có hai thứ: Nhân và quả. Vì nhân ác nên quả ác, vì quả ác nên nhân ác.
Như trái nhâm bà vì hột nó đắng, nên bông trái cây lá tất cả đều đắng. Như cây độc vì hột nó độc nên trái cũng độc.
Nhân là chúng sinh quả cũng chúng sinh. Nhân là phiền não quả cũng phiền não. Nhân quả phiền não chính là chúng sinh. Chúng sinh chính là nhân quả phiền não.
Nếu cứ theo nghĩa này, cớ sao đức Như Lai trước kia nói dụ núi Tuyết cũng có cỏ độc, cũng có cây thuốc hay?
Nếu nói phiền não là chúng sinh, chúng sinh là phiền não, sao Phật lại nói trong thân chúng sinh có thuốc hay?
Lành thay! Lành thay! Này Thiện Nam Tử! Vô lượng chúng sinh đều đồng nghi như vậy. Nay ông vì chúng sinh mà thưa hỏi. Ta cũng có thể giải thích để trừ nghi.
Ông nên lóng nghe khéo suy nghĩ và ghi nhớ đó.
Này Thiện Nam Tử! Núi Tuyết kia dụ cho chúng sinh, cỏ độc là nói phiền não, cây thuốc hay là chỉ cho phạm hạnh thanh tịnh.
Này Thiện Nam Tử! Nếu có chúng sinh tu tập phạm hạnh thanh tịnh như vậy, thời gọi là trong thân có thuốc hay.
- Bạch Thế Tôn! Thế nào chúng sinh có phạm hạnh thanh tịnh.
Này Thiện Nam Tử! Như trong đời, từ hột sinh ra trái. Trái này có thứ sinh ra hột, có thứ chẳng sinh. Thứ có thể sinh hột thời gọi là quả tử. Thứ không thể sinh chỉ được gọi là quả chẳng đượcgọi là tử.
Tất cả chúng sinh cũng như vậy, có hai hạng: Một là có quả phiền não là nhân phiền não, hai là có quả phiền não chẳng phải nhân phiền não. Hạng sau đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
Này Thiện Nam Tử! Chúng sinh quán sát thọ ấm, biết nó là cận nhân của tất cả lậu. Vì thọ ấm làm nhân duyên nên không thể dứt tuyệt tất cả các lậu, cũng không thể ra khỏi ngục tam giới. Nhân nơi thọ mà chúng sinh chấp ngã và ngã sở, sinh ra tâm đảo, tưởng đảo và kiến đảo. Do đây nên chúng sinh trước phải quán sát thọ ấm, thọ này là cận nhân của tất cả ái. Do đây nên người trí muốn dứt tham ái, trước phải quán sát thọ.
Này Thiện Nam Tử! Tất cả chúng sinh, mười hai nhân duyên chỗ gây tạo nghiệp thiện ác đều nhân nơi thọ. Do đây nên ta từng bảo A Nan rằng: Tất cả chúng sinh tạo nghiệp thiện ác đều do nơi thọ. Nên người trí trước phải quán sát thọ.
Đã quán sát thọ rồi lại phải quán sát thọ này do nhân duyên gì mà sinh? Nếu do nhân duyên sinh, thời nhân duyên đó lại từ đâu mà sinh? Nếu không nhân duyên mà sinh, thời không nhân kia cớ sao chẳng sinh không thọ?
Lại quán sát thọ này chẳng phải do Tư Tại Thiên sinh, chẳng do sĩ phu sinh, chẳng do vi trần sinh, chẳng phải thời tiết sinh, chẳng do tưởng sinh, chẳng do tính sinh, chẳng phải tự sinh, chẳng phải tha sinh, chẳng phải vô nhân sinh. Thọ này từ các duyên hòa hiệp mà sinh, duyên đây chính là ái. Trong sự hòa hiệp này chẳng phải có thọ chẳng phải không thọ. Do đây nên ta phải dứt sự hòa hiệp này. Vì dứt hòa hiệp nên chẳng sinh ra thọ.
Này Thiện Nam Tử! Người trí quán sát nhân rồi kế quán sát quả báo : Chúng sinh do nơi thọ mà thọ báo địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nhẫn đến thọ vô lượng sự khổ não trong tam giới. Do nơi thọ mà thọ lấy sự vui hư huyễn vô thường. Do nơi thọ mà dứt căn lành. Do nơi thọ mà được giải thoát. Lúc quán sát như vậy thời chẳng làm nhân cho thọ.
Thế nào gọi là chẳng làm nhân cho thọ? Chính là phân biệt thọ: Những thọ gì có thể làm nhân cho ái? Những ái gì có thể làm nhân cho thọ?
Này Thiện Nam Tử! Nếu chúng sinh có thể quán sát rành rẽ ái nhân và thọ nhân như vậy, thời có thể dứt ngã và ngã sở.
Này Thiện Nam Tử! Nếu người nào có thể quán sát những điều như vậy, thời nên biện biệt ái cùng thọ dứt tại chỗ nào? Bèn thấy ái và thọ có chỗ diệt phần ít, do đây nên biết rằng cũng phải có diệt hoàn toàn. Bấy giờ ở nơi giải thoát người này sinh tín tâm, quán sát chỗ giải thoát này do đâu mà được. Quán sát rồi biết rõ từ bát chính đạo nên liền tu tập.
Thế nào gọi là bát chính đạo? Đạo này quán sát thọ có ba tướng: Một là khổ, hai là lạc, ba là bất khổ bất lạc. Ba tướng này đều có thể làm cho thân tâm tăng trưởng.
Nhân duyên gì mà có thể tăng trưởng? Vì xúc làm nhân duyên. Xúc này có ba : Một là vô minh xúc, hai là minh xúc, ba là phi minh phi vô minh xúc. Minh xúc đây chính là bát chính đạo. Hai xúc kia thời tăng trưởng thân tâm và ba món thọ. Do đây nên phải dứt hai món xúc này. Xúc đã dứt nên chẳng sinh ba món thọ.
Này Thiện Nam Tử! Thọ này cũng gọi là nhân cũng gọi là quả. Người trí phải quán sát cũng nhân cũng quả này: Nhân thọ sinh ra ái gọi đó là nhân. Thọ nhân nơi xúc mà sinh đây gọi là quả.
Người trí quán sát thọ như vậy rồi, kế lại quán sát ái. Quả báo của thọ gọi là ái. Quán sát ái có hai thứ Một là tạp thực, hai là vô thực.
Tạp thực ái làm nhân sinh ra già bệnh chết tất cả những cõi hữu lậu. Vô thực ái thời dứt sinh gìa bệnh chết tất cả các cõi mà tham ưa đạo vô lậu.
Lại nên nghĩ rằng: Nếu ta sinh tạp thực ái này thời không thể dứt được sinh lão bệnh tử. Nay dầu ta tham đạo vô lậu, nếu chẳng dứt thọ nhân, thời không thể được đạo quả vô lậu. Do đây nên phải dứt xúc này trước. Xúc đã dứt thời thọ tự diệt. Thọ đã diệt thời ái cũng mất theo. Đây gọi là bát chính đạo.
Này Thiện Nam Tử! Nếu có chúng sinh nào quán sát như vậy, dầu hiện tại có thân ác độc, nhưng trong đó cũng có cây thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc tốt.
Những chúng sinh này dầu do phiền não mà có quả báo, những quả báo này chẳng còn lại sinh phiền não, đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
Này Thiện Nam Tử! Người trí phải quán sát hai thứ thọ và ái do nhân duyên gì sinh ra? Biết do nơi tưởng mà sinh. Vì chúng sinh lúc thấy sắc cũng chẳng sinh tham. Đến lúc quán thọ cũng chẳng sinh tham. Nếu ở trong sắc mà sinh tưởng điên đảo, cho rằng sắc là thường, lạc, ngã , tịnh. Thọ là thường hằng không biến đổi. Do tưởng điên đảo này mà sinh tham, sân, si. Do đây nên người trí phải quán sát.
Và phải suy nghĩ rằng: Tất cả chúng sinh lúc chưa được chính đạo đều có tưởng điên đảo: Ở trong chẳng phải thường, lạc, ngã, tịnh mà nhận là thường, lạc, ngã, tịnh. Nơi pháp chẳng phải nam, nữ, lớn, nhỏ, ngày, đêm, năm, tháng, y phục, nhà cửa v.v… mà tưởng là nam, là nữ v.v…
Tưởng này có ba thứ: Tiểu, đại và vô lượng. Vì nhân duyên nhỏ nên sinh tưởng nhỏ. Vì nhân duyên lớn nên sinh tưởng lớn. Vì vô lượng duyên nên sinh tưởng vô lượng.
Lại có tưởng nhỏ chính là chưa nhập định, tưởng lớn là nói đã nhập định, vô lượng tưởng là nói mười nhất thiết nhập.
Lại có tưởng nhỏ là tất cả tưởng ở cõi dục, tưởng lớn là tất cả tưởng ở cõi sắc, vô lượng tưởng là tất cả tưởng ở cõi vô sắc.
Vì ba thứ tưởng này diệt nên thọ cũng tự diệt. Vì tưởng thọ diệt nên gọi là giải thoát.
- Bạch Thế Tôn! Diệt tất cả pháp gọi là giải thoát, sao đức Như Lai nói tưởng thọ diệt gọi là giải thoát?
Này Thiện Nam Tử! Như Lai có lúc nhân chúng sinh mà thuyết pháp, người nghe hiểu được pháp.
Như trước kia ta bảo Đại Ca Diếp: Lúc chúng sinh diệt thời pháp lành diệt. Hoặc có lúc ta nhân nơi pháp mà nói chúng sinh, người nghe cũng hiểu là nói chúng sinh. Như trước kia ta bảo A Nan rằng: Đức Phật cũng chẳng nói gần gũi tất cả pháp, lại cũng chẳng nói chẳng gần gũi tất cả pháp. Nếu đã gần nơi pháp mà pháp lành kém suy, pháp ác lừng thạnh, thời chẳng nên gần pháp đó. Nếu đã gần nơi pháp nào mà điều ác suy diệt, điều lành thêm lớn, thời nên gần gũi pháp đó.
Này Thiện Nam Tử! Dầu đức Như Lai nói tưởng thọ diệt, nhưng đã tổng nói dứt tất cả pháp nên dứt.
Người trí đã quán tưởng như vậy rồi, kế lại quán nhân của tưởng: Vô lượng tưởng này nhân đâu mà sinh? Biết rằng nhân xúc mà sinh. Xúc này có hai: Một là do phiền não mà có xúc, hai là do giải thoát mà có xúc. Do vô minh sinh gọi là phiền não xúc, do minh sinh gọi là giải thoát xúc. Nhân nơi phiền não xúc sinh ra đảo tưởng. Nhân nơi giải thoát xúc sinh ra bất đảo tưởng. Quán sát nhân của tưởng rồi kế lại quán sát quả báo.
- Bạch Thế Tôn! Nếu vì nhân nơi tưởng phiền não này mà sinh đảo tưởng, thời tất cả thánh nhân thiệt có đảo tưởng mà không phiền não.
Này Thiện Nam Tử! Thế nào là Thánh nhân mà có đảo tưởng?
- Bạch Thế Tôn! Tất cả Thánh nhân đối với con bò con ngựa tưởng là bò là ngựa rồi cũng nói là bò là ngựa. Đối với nam nữ lớn nhỏ nhà cửa v.v… cũng như vậy, do đây nên gọi là đảo tưởng.
Này Thiện Nam Tử! Tất cả phàm phu có hai thứ tưởng: Một là thế lưu bố tưởng, hai là chấp trước tưởng. Tất cả Thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng, không có chấp trước tưởng. Tất cả phàm phu vì ác giác quán nên đối với thế lưu bố sinh ra chấp trước tưởng. Tất cả Thánh nhân vì thiện gíac quán nên đối với thế lưu bố chẳng sinh tưởng chấp trước. Do đây nên phàm phu gọi là đảo tưởng. Thánh nhân dầu biết các pháp mà chẳng gọi là đảo tưởng.
Người trí quán sát nhân của tưởng rồi kế lại quán quả báo: Ác trưởng này thọ quả nơi địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nhân và thiên. Như ta do vì dứt ác giác quán nên vô minh xúc dứt, do đây mà tưởng dứt, vì tưởng dứt nên quả báo cũng dứt. Người trí vì dứt nhân của tưởng nên tu bát chính đạo.
Nếu có người quán sát được như vậy, thời gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
Này Thiện Nam Tử! Như trên đây gọi là trong thân ác độc của chúng sinh mà có thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc hay.
Này Thiện nam Tử! Người trí kế lại quán sát dục, tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc. Đây là đức Như Lai ở trong nhân mà nói quả, vì từ năm trần này mà sinh ra dục, thiệt ra năm trần chẳng phải dục.
Này Thiện Nam Tử! Người ngu si vì tham cầu thọ lấy nên đối với sắc sinh ra tưởng điên đảo, đối với thanh, hương, vị, xúc cũng sinh ra tưởng điên đảo. Do đảo tưởng làm nhân duyên mà sinh ra thọ. Do đây nên trong đời nói rằng nhân đảo tưởng sinh ra mười món tưởng.
Do dục làm nhân duyên mà thọ lấy quả báo ác nơi thế gian. Đem sự ác làm hại cha mẹ, Sa Môn, Bà La Môn v.v…, chỗ chẳng nên làm ác mà cố làm chẳng tiếc thân mạng. Người trí quán sát ác tưởng này làm nhân duyên mà sinh ra dục tâm.
Quán sát nhân duyên của dục rồi kế lại quán quả báo: Dục này có nhiều quả báo ác: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nhân và thiên.
Nếu những ác tưởng này đã trừ diệt được, thời vĩnh viễn chẳng sinh dục tâm này, vì không dục tâm nên chẳng sinh ác thọ, đã không ác thọ thời không ác quả, do đây nên phải dứt ác tưởng trước. Ác tưởng đã dứt thời những pháp ác khác tự nhiên đều dứt. Do cớ trên đây nên người trí vì dứt ác tưởng mà tu bát chính đạo, đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh, cũng gọi là trong thân độc của chúng sinh có vị thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc hay.
Này Thiện Nam Tử! Người trí quán dục như vậy rồi kế nên quán nghiệp. Phải suy nghĩ rằng: Bốn thứ thọ, tưởng, xúc và dục chính là phiền não. Phiền não này có thể làm sinh nghiệp mà chẳng làm thọ nghiệp. Phiền não này cùng đi với nghiệp có hai thứ: Một là làm sinh nghiệp, hai là làm tác nghiệp.
Do đây nên người trí phải quán sát nơi nghiệp. Nghiệp này có ba: Thân, khẩu và ý. Hai nghiệp thân, khẩu tên là nghiệp mà cũng gọi là nghiệp quả, ý chỉ gọi là nghiệp, vì là nhân của nghiệp nên gọi là nghiệp. Hai nghiệp thân, khẩu là nghiệp ngoài, ý gọi là nghiệp trong. Ba thứ nghiệp này đi cùng với phiền não làm thành hai thứ nghiệp: Một là sinh nghiệp, hai là thọ nghiệp.
Này Thiện Nam Tử! Chính nghiệp tức là ý, kỳ nghiệp tức là thân khẩu. Phát sinh trước gọi là ý nghiệp, từ ý nghiệp sinh ra gọi là thân khẩu nghiệp. Do đây nên ý nghiệp được gọi là chính.
Người trí đã quán nghiệp rồi kế lại quán nghiệp nhân. Nghiệp nhân đây là vô minh xúc. Do nơi vô minh xúc mà chúng sinh cầu lấy có. Nhân duyên cầu lấy có tức là ái. Nhân nơi ái mà gây tạo ba thứ nghiệp, thân, khẩu, ý.
Người trí quán nghiệp nhân rồi kế lại quán quả báo. Quả báo đây có bốn: Một là hắc hắc quả báo, hai là bạch bạch quả báo, ba là tạp tạp quả báo, bốn là bất hắc bất bạch quả báo.
Hắc hắc quả báo là lúc tạo nghiệp nhơ đục quả báo cũng nhơ đục. Bạch bạch quả báo là lúc tạo nghiệp thanh tịnh quả báo cũng thanh tịnh.
Tạp tạp quả báo là lúc tạo nghiệp tạp quả báo cũng tạp. Bất bạch bất hắc quả báo là nói vô lậu nghiệp.
- Bạch Thế Tôn Trước kia đức Như Lai nói vô lậu không có quả báo, cớ sao nay lại nói vô lậu là bất bạch bất hắc quả báo.
Này Thiện Nam Tử! Nghĩa này có hai: Một là cũng quả cũng báo, hai là chỉ quả chẳng phải báo. Hắc hắc quả báo là quả cũng là báo: Do nghiệp nhân hắc mà sinh ra nên gọi là quả, nó lại có thể làm nhân nên lại gọi là báo. Bạch bạch và tạp tạp cũng như vậy. Quả vô lậu nhân nơi hữu lậu mà sinh nên gọi là quả, nó chẳng làm nhân cho pháp khác nên chẳng gọi là báo. Do đây nên vô lậu gọi là quả mà chẳng gọi là báo.
- Bạch Thế Tôn! Nghiệp vô lậu này chẳng phải là hắc pháp, duyên cớ gì chẳng gọi nó là bạch
Này Thiện Nam Tử! Vì vô lậu không có báo nên chẳng gọi là bạch. Vì đối trị hắc nên gọi là bạch. Nay ta nói thọ quả báo gọi là hắc bạch. Vì nghiệp vô lậu này chẳng thọ báo nên chẳng gọi là bạch mà gọi là tịch tịnh.
Nghiệp như vậy có chỗ định thọ báo, như mười pháp ác quyết định ở địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, mười nghiệp lành quyết định ở nhân, thiên.
Mười pháp ác có thượng, trung và hạ: Nghiệp thượng thọ thân địa ngục, nghiệp trung thọ thân súc sinh, nghiệp hạ thọ thân ngạ quỉ.
Mười nghiệp lành về nhân đạo có bốn hạng: Nghiệp hạ sinh Bắc Câu Lô Châu, nghiệp trung sinh Tây Ngưu Hóa Châu, nghiệp thượng sinh Đông Thắng Thần Châu, nghiệp thượng thượng sinh Diêm Phù Đề.
Người trí quán sát như vậy rồi liền nghĩ rằng: Ta phải làm thế nào dứt những quả báo ấy? Lại nghĩ rằng nhân duyên của những nghiệp này do vô minh xúc sinh ra, nếu ta dứt trừ vô minh cùng xúc, thời nghiệp quả này dứt mất chẳng còn sinh. Vì dứt trừ vô minh và xúc nên người trí tu bát chính đạo, đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh. Cũng gọi là trong thân độc của chúng sinh có vị thuốc hay, như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc.
Này Thiện Nam Tử! Người trí quán sát nghiệp và quán sát phiền não rồi, kế lại quán sát quả báo của hai thứ này: Tức là khổ. Đã biết là khổ thời có thể xa lìa tất cả sự thọ sinh.
Người trí lại quán sát phiền não làm nhân duyên sinh ra phiền não, nghiệp cũng làm nhân duyên sinh ra phiền não. Phiền não lại làm nhân duyên sinh ra nghiệp, nghiệp làm nhân duyên sinh ra khổ, khổ làm nhân duyên sinh ra phiền não, phiền não làm nhân duyên sinh ra hữu, hữu làm nhân duyên sinh ra khổ, khổ làm nhân duyên sinh ra hữu, hữu làm nhân duyên sinh ra nghiệp, nghiệp làm nhân duyên sinh ra phiền não, phiền não làm nhân duyên sinh ra khổ, khổ làm nhân duyên sinh ra nghiệp.
Này Thiện Nam Tử! Nếu ai có thể quán sát như vậy, nên biết rằng người này có thể quán sát nghiệp khổ, vì những điều quán sát như vậy chính là mười hai nhân duyên sinh tử, người này chẳng gây tạo nghiệp mới, có thể phá hoại nghiệp cũ.
Này Thiện Nam Tử! Người trí quán sát sự khổ nơi địa ngục. Quán sát nơi địa ngục nhẫn đến ba trăm ba mươi sáu sở. Mỗi địa ngục đều có các sự khổ, đều do phiền não và nghiệp sinh ra. Quán sát địa ngục rồi kế lại quán sát những sự khổ của ngạ quỉ và súc sinh. Kế lại quán sát những sự khổ của nhân gian và của chư thiên. Những sự khổ như vậy đều do nơi phiền não và nghiệp sinh ra.
Này Thiện Nam Tử! Trên các cõi Trời dầu không những sự khổ não lớn, nhưng thân thể của chư thiên mềm dịu mịn trơn, lúc năm tướng suy hiện ra họ cũng thọ lấy sự khổ lớn, như sự khổ của địa ngục.
Này Thiện Nam Tử! Người trí quán sát những sự khổ của tam giới đều do nơi phiền não và nghiệp mà sinh. Như đồ bằng đất chưa hầm thời dể bể hư. Thân thể của chúng sinh cũng như vậy, là những đồ đầy sự khổ. Như cây to bông trái sum sê bầy chim có thể làm hư hại. Như nhiều cỏ khô chút lửa cũng có thể cháy hết. Thân thể của chúng sinh bị những sự khổ làm hư hoại cũng như vậy. Người trí nếu có thể quán sát tám thứ khổ, người này có thể dứt được những sự khổ.
Này Thiện NamTử! Đã quán sát tám sự khổ rồi kế lại quán sát khổ nhân.
Khổ nhân đây là ái cùng vô minh. Có hai thứ: Một là cầu thân thể, hai là cầu của cải, hai thứ này đều là khổ, do đây nên biết ái cùng vô minh là khổ nhân. Lại có hai thứ: Một là nội, hai là ngoại. Nội có thể gây nghiệp, ngoại có thể làm tăng trưởng. Nội lại có thể gây nghiệp, ngoại làm thành nghiệp quả.
Đã dứt nội ái thời nghiệp cũng dứt, dứt được ngoại ái thời qủa cũng dứt. Nội ái có thể sinh khổ đời vị lai, ngoại ái có thể sinh khổ đời hiện tại. Do đây nên ái là khổ nhân.
Đã quán khổ nhân rồi kế lại quán sát quả báo. Quả báo của khổ chính là thủ, ái quả gọi là thủ. Nhân duyên của thủ này tức là nội ái và ngoại ái do đây có ái khổ.
Nguời trí phải quán sát ái làm nhân duyên cho thủ, thủ nhân duyên nơi ái, nếu có thể dứt ái và thủ thời chẳng tạo nghiệp thọ khổ. Do đây nên người trí vì dứt trừ ái khổ mà tu bát chính đạo. Đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh, cũng gọi là trong thân độc của chúng sinh có vị thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc.
- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là phạm hạnh thanh tịnh?
Này Thiện Nam Tử! Chính là tất cả pháp.
- Bạch Thế Tôn! Nghĩa của tất cả pháp chẳng nhất định. Vì đức Như Lai có lúc nói là thiện, bất thiện. Có lúc nói là tứ niệm xứ quán. Hoặc nói là thập nhị nhập. Hoặc nói là thiện tri thức. Hoặc nói là thập nhị nhân duyên. Hoặc nói là chúng sinh. Hoặc nói là chính kiến, tà kiến. Hoặc nói là mười hai bộ kinh. Hoặc nói là nhị đế.
Hôm nay đức Như Lai lại nói tất cả pháp là phạm hạnh thanh tịnh, đó là những tất cả pháp gì?
Này Thiện Nam Tử! Kinh Đại Niết Bàn vi diệu này là bảo tạng trong tất cả pháp.
Như biển cả là kho chứa những châu báu, kinh Đại Niết bàn này cũng như vậy, là bí tạng của tất cả chữ nghĩa.
Như núi Tu Di là cội gốc của các vị thuốc, kinh này cũng là cội gốc của giới Bồ Tát.
Như hư không là chỗ ở củatất cả vật, kinh nàycũng là chỗ ở của tất cả pháp lành.
Như luồng gió mạnh không gì trói buộc được. Tất cả Bồ Tát thật hành kinh này cũng chẳng bị tất cả phiền não trói buộc.
Như chất kim cương không gì phá hoại được, kinh này dầu có ngoại đạo ác tà cũng chẳng phá hoại được.
Như cát sông Hằng không ai đếm được, ý nghĩa của kinh này cũng không ai đếm được.
Kinh này là pháp tràng của Bồ Tát, như bảo tràng của Thiên Đế Thích.
Kinh này là vị thương chủ thẳng đến thành Niết Bàn, như bậc đạo sư dẫn các thương nhân thẳng đến biển cả.
Kinh này có thể làm ánh sáng pháp cho Bồ tát, như mặt trời mặt trăng có thể phá tối tăm ở thế gian.
Kinh này có thể làm vị thuốc hay cho chúng sinh mang bệnh khổ, như trong núi Tuyết có cây thuốc hay trị được các thứ bệnh. Kinh này có thể làm gậy cho Nhất Xiển Đề, như người quá yếu nhờ gậy mà đứng dậy được.
Kinh này có thể làm cầu đò cho tất cả người ác, như cây cầu là chỗ tất cả người đi qua.
Kinh này làm bóng mát cho những ai bị nóng phiền não trong hai mươi lăm cõi, như cây lọng che nắng nóng.
Kinh này là vua đại vô úy có thể phá hoại tất cả ác ma phiền não, như Sư Tử Vương hàng phục bầy thú.
Kinh này là đại thần chú có thể phá hoại tất cả ác quỉ phiền não, như chú sư trong đời có thể đuổi trừ quỉ vọng lượng.
Kinh này là mưa đá vô thượng có thể phá hoại tất cả quả báo sinh tử.
Kinh này có thể làm vị thuốc hay cho người hư con mắt giới, như thuốc An Xà Na trị lành con mắt đau.
Kinh này có thể làm chổ ở cho tất cả pháp lành, như mặt đất làm chỗ ỡ cho muôn vật.
Kinh này là gương sáng của chúng sinh phá giới, như gương sáng soi các hình tư






