Trang 01
Thứ bảy, 30/07/2016, 01:08
PHẨM SƯ TỬ HỐNG BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI BA
Trang 01
Bấy giờ Đức Phật bảo tất cả đại chúng: “Này các Thiện nam tử! Các người nếu nghi là có Phật không Phật, có Pháp không Pháp, có Tăng không Tăng, có khổ không khổ, có tập không tập, có diệt không diệt, có đạo không đạo, có thiệt không thiệt, có ngã không ngã, có lạc không lạc, có tịnh không tịnh, có thường không thường, có thừa không thừa, có tính không tính, có chúng sinh không chúng sinh, có hữu không hữu, có chân không chân, có nhân không nhân, có quả không quả, có tác không tác, có nghiệp không nghiệp, có báo không báo, giờ đây tha hồ cho các người hỏi, ta sẽ phân biệt giải thuyết cho.
Ta thiệt chẳng thấy hoặc có Trời, Người, hoặc có Ma, Phạm, hoặc có Sa Môn hay Bà La Môn nào đến hỏi mà ta không giải đáp được.
Trong pháp hội có Bồ Tát hiệu Sư Tử Hống đứng dậy nghiêm chỉnh y phục đỉnh lễ đức Phật chấp tay quì bạch rằng: “Thế Tôn! Tôi vừa muốn hỏi, đức Như Lai đại từ lại đã hứa cho”.
Phật bảo đại chúng rằng: “Các người nên cung kính Bồ Tát này, cũng nên tôn trọng tán thán cùng đem các thứ hoa hương kỹ nhạc, anh lạc, phan lọng, y phục, đồ ăn uống, đồ nằm , thuốc men, phòng nhà, điện đường để cúng dường Bồ Tát. Vì Bồ Tát này từ quá khứ chư Phật đã sâu trồng thiện căn phước đức đã đầy đủ, vì thế nên muốn ở trước ta mà thưa hỏi.
Như Sư Tử chúa tự biết sức lực nanh răng nhọn bén, bốn chân chống đất đứng trong hang vẩy đuôi gầm ra tiếng. Nếu có người nào đủ những tướng như vậy phải biết rằng có thể rống như Sư Tử, thiệt là Sư Tử chúa sáng sớm ra khỏi hang vươn vai ngáp nhìn ngó bốn phương, cất tiếng rống to. Làm như thế là vì mười một điều: Một là vì muốn phá dẹp những loài chẳng phải thiệt Sư Tử mà dối làm Sư Tử; hai là vì muốn thử sức mình ; ba là vì muốn khiến chỗ ở thanh tịnh; bốn là vì muốn bầy Sư Tử con biết chỗ nơi; năm là vì muốn đoàn Sư Tử không tâm kinh sợ; sáu là vì muốn kẻ ngũ được thức tỉnh; bảy là vì muốn tất cả những thú phóng dật được siêng năng chẳng phóng dật; tám là vì muốn những thú khác đến chầu hầu; chín là vì muốn điều phục đại hương tượng; mười là vì muốn dạy bảo các con cái; mười một là vì muốn trang nghiêm quyến thuộc của mình.
Tất cả loài cầm thú nghe tiếng hống của Sư Tử, loài lội dưới nước liền lặn xuống vực sâu, loài chạy trên bờ nép trốn trong hang, loài chim bay thời rơi rớt, các đại hương tượng kinh hãi chạy té phẩn.
Như loài chồn cáo kia dầu đi theo Sư Tử trọn trăm năm nhưng chẳng thể rống lên tiếng như Sư Tử. Nếu là con Sư Tử, mới đầy ba năm thời có thể kêu rống như Sư Tử chúa.
Này Thiện nam tử! Như Lai chính đẳng giác, trí huệ là nanh vuốt, bốn như ý túc là chân, đầy đủ sáu môn Ba La Mật là thân, thập trí lực hùng mãnh là sức lực, đại từ bi là đuôi an trụ, tứ thiền là hang thanh tịnh, vì chúng sinh mà rống như Sư Tử, dẹp phá quân ma, hiện bày mười trí lực, mở mang chỗ đi của Phật, làm chỗ nương về cho bọn tà kiến, vỗ về những chúng sợ sệt sinh tử, giác ngộ chúng sinh vô minh ngủ nghỉ, làm cho người tạo ác sinh tâm ăn năn, khai thị tà kiến cho tất cả chúng sinh, làm cho họ biết hàng lục sư chẳng phải là tiếng rống của Sư Tử, để phá lòng kiêu mạn của ngoại đạo Phú Lâu Na v.v… Làm cho hàng nhị thừa sinh lòng hối hận, dạy bảo các Bồ Tát bậc ngũ trụ cho họ sinh tâm đại lực, làm cho bốn bộ chúng chính kiến chẳng sợ sệt những đồ chúng tà kiến, nên từ nơi thánh hạnh, phạm hạnh, thiên hạnh, vươn vai mà ra. Muốn khiến các chúng sinh phá lòng kiêu mạn nên hà ngáp. Vì khiến chúng sinh thêm lớn pháp lành nên đoái ngó bốn phương. Vì khiến chúng sinh đặng tứ vô ngại biện nên bốn chân chấm đất. Vì khiến chúng sinh đầy đủ Thi La Ba La Mật nên rống như Sư Tử.
Sư Tử rống gọi là quyết định thuyết: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Như Lai thường trụ không có biến đổi”.
Này Thiện nam tử! Hàng Thanh Văn Duyên Giác dầu theo đức Như Lai trong vô lượng vô số kiếp nhưng trọn không thể làm Sư Tử rống. Thập trụ Bồ Tát nếu có thể tu hành ba hạnh như trên, nên biết rằng đó là Sư Tử rống.
Này đại chúng ! Bồ Tát Sư Tử Hống đây, nay muốn làm đại Sư Tử rống, nên đại chúng phải nên thâm tâm cúng dường cung kính tôn trọng tán thán.
Bây giờ Thế Tôn bảo Sư Tử Hống Bồ Tát: “Này Thiện nam tử! Nếu ông muốn hỏi, giờ đây ông có thể hỏi”.
Bạch Thế Tôn! Thế nào là Phật tính? Do nghĩa gì nên gọi là Phật tính? Có gì lại gọi là thường, lạc, ngã, tịnh? Nếu chúng sinh có Phật tính, tại sao lại chẳng thấy được Phật tính của tất cả chúng sinh? Thập trụ Bồ Tát trụ những pháp gì mà chẳng thấy Phật tính rõ ràng? Phật trụ những pháp gì mà thấy được rõ ràng? Thập trụ Bồ Tát dùng con mắt gì mà thấy chẳng rõ ràng? Phật dùng con mắt gì mà thấy Phật tính được rõ ràng?
Phật bảo: Này Thiện nam tử! Lành thay! Lành thay! Nếu có ai vì pháp mà thưa hỏi thời là đầy đủ hai thứ trang nghiêm: Một là trí huệ, hai là phước đức. Nếu có Bồ Tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm như vậy thời biết Phật tính, cũng lại rõ biết gọi là Phật tính, nhẫn đến có thể biết Thập trụ Bồ Tát dùng con mắt gì, chư Phật Thế Tôn dùng con mắt gì .
Sư Tử Hống Bồ Tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là trí huệ trang nghiêm? Thế nào gọi là phước đức trang nghiêm?".
Này Thiện nam tử! Trí huệ trang nghiêm chính là từ nhất địa đến thập địa. Phước đức trang nghiêm chính là Đàn Ba La Mật nhẫn đến Bát Nhã, chẳng phải là Bát Nhã Ba La Mật.
Lại này Thiện nam tử! Huệ trang nghiêm là nói chư Phật và Bồ Tát. Phước đức trang nghiêm là nói Thanh Văn Duyên Giác cùng Cửu trụ Bồ Tát.
Lại này Thiện nam tử! Phước đức trang nghiêm là hữu vi hữu lậu có quả báo, có ngại chẳng phải thường, là pháp phàm phu. Trí huệ trang nghiêm là vô vi vô lậu không quả báo, không ngại là thường trụ.
Này Thiện nam tử! Nay ông đầy đủ hai thứ trang nghiêm này, nên ông có thể hỏi diệu nghĩa rất sâu Phật cũng đầy đủ hai thứ trang nghiêm này nên có thể giải đáp những nghĩa ấy.
Bạch Thế Tôn! Nếu có Bồ Tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm như vậy thời chẳng nên hỏi một thứ hai thứ. Tại sao đức Thế Tôn nói rằng có thể đáp một thứ hai thứ. Vì tất cả pháp không có một thứ hai thứ. Một thứ hai thứ là tướng phàm phu.
Này Thiện nam tử! Nếu có Bồ Tát không hai thứ trang nghiêm thời chẳng phải biết một thứ hai thứ. Phải là Bồ Tát đầy đủ hai thứ trang nghiêmmới có thể rõ biết một thứ hai thứ. Nếu nói các pháp không một hai đó, thời không đúng nghĩa. Vì nếu không một hai thế nào nói là tất cả pháp không một không hai.
Này Thiện nam tử! Nếu nói một hai là tướng phàm phu, đây bèn gọi là bậc Thập trụ Bồ Tát chẳng phải là phàm phu vậy. Tại sao vậy? Một đó gọi là Niết Bàn, hai đó gọi là sinh tử.
Tại sao một đó gọi là Niết Bàn? Vì Niết Bàn là thường. Tại sao hai đó là sinh tử? Vì là ái và vô minh vậy.
Niết Bàn thường trụ đó chẳng phải là tướng phàm phu. Sinh tử là hai đó cũng chẳng phải tướng phàm phu. Do nghĩa này nên người đủ hai thứ trang nghiêm thời có thể hỏi có thể đáp.
Ông hỏi thế nào là Phật tính đó? Lóng nghe! Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho ông.
Này Thiện nam tử! Phật tính đã gọi là đệ nhất nghĩa không, đệ nhất nghĩa không gọi là trí huệ.
Không đây là chẳng thấy không cùng bất không. Người trí thấy không và bất không thường cùng vô thường khổ với lạc, ngã cùng vô ngã. Không là nói tất cả sinh tử. Bất không là nói Đại Niết Bàn. Nhẫn đến vô ngã chính là sinh tử. Ngã đó chính là Đại Niết Bàn.
Thấy tất cả không mà chẳng thấy bất không thời chẳng gọi là trung đạo. Nhẫn đến thấy tất cả vô ngã mà chẳng thấy ngã thời chẳng gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật tính. Do nghĩa này nên Phật tính là thường hằng không biến đổi vì vô minh che đậy làm cho chúng sinh chẳng thấy được. Hàng Thanh Văn Duyên Giác thấy tất cả không mà chẳng thấy bất không, nhẫn đến thấy tất cả vô ngã mà chẳng thấy ngã, do đây nên chẳng được đệ nhất nghĩa không. Vì chẳng đặng đệ nhất nghĩa không nên chẳng đi được nơi trung đạo. Vì không trung đạo nên chẳng thấy Phật tính.
Này Thiện nam tử! Phàm có ba hạng chẳng thấy trung đạo. Một là định lạc hành, hai là định khổ hành, ba là khổ lạc hành.
Định lạc hành chính là Đại Bồ Tát vì thương xót tất cả chúng snh, nên dầu ở địa ngục A Tỳ nhưng an vui như đệ tam thiền.
Định khổ hành là nói hàng phàm phu.
Khổ lạc hành là nói Thanh Văn Duyên Giác. Thanh Văn Duyên Giác hành nơi khổ lạc mà tưởng là trung đạo, do đây nên dầu có Phật tính mà chẳng thấy được.
Như ông hỏi nghỉa gì gọi là Phật tính?
Này Thiện nam tử! Phật tính chính là vô thượng Bồ Đề của tất cả chư Phật, là chủng tử của trung đạo.
Lại này Thiện nam tử! Đạo có ba: Thượng, trung, hạ.
Đạo bậc hạ là Phạm thiên vô thường nhận lầm là thường. Đạo bậc thượng là sinh tử vô thườntg nhận lầm là thường. Tam Bảo là thường chấp là vô thường. Cớ gì gọi là bậc thượng? Vì có thể đặng vô thượng Bồ Đề.
Đạo bậc trung gọi là đệ nhất nghĩa không: Vô thường thấy là vô thường, thường thấy là thường. Đệ nhất nghĩa không chẳng gọi là hạ, vì tất cả phàm phu không thể được, lại chẳng gọi là bậc thượng, vì chính đây là thượng. Đạo của chư Phật Bồ Tát tu hành chẳng phải thượng chẳng phải hạ nên gọi là trung đạo.
Này Thiện nam tử! Bờ mé sinh tử phàm có hai thứ cội gốc: Một là vô minh, hai là hữu ái. Chặn giữa hai thứ này thời có quả khổ sinh già bệnh chết, đây gọi là trung đạo. Trung đạo như đây có thể phá sinh tử nên gọi là trung. Do nghĩa này nên pháp trung đạo gọi là Phật tính. Vì thế nên Phật tính là thường lạc ngã tịnh. Bởi chúng sinh chẳng thấy được Phật tính nên là vô thường vô lạc vô ngã vô tịnh. Phật tính thiệt chẳng phải là vô thường vô lạc vô ngã vô tịnh.
Ví như người nghèo trong nhà có kho châu báu vì người này chẳng thấy nên không được sung sướng tự tại. Có người trí dùng phương tiện chỉ bảo cho được thấy. Nhờ thấy có châu báu người này hết khổ đặng sung sướng tự tại.
Cũng vậy, vì chúng sinh chẳng thấy Phật tính nên là vô thường vô lạc vô ngã vô tịnh. Do thiện tri thức, chư Phật và Bồ Tát dùng nhiều phương tiện dạy bảo mà chúng sinh thấy Phật tính. Do thấy Phật tính nên chúng sinh được thường, lạc, ngã, tịnh.
Kiến chấp của chúng sinh phàm có hai: Thường kiến và đoạn kiến. Hai thứ kiến chấp này chẳng gọi là trung đạo. Không thường không đoạn mới gọi là trung đạo, không thường không đoạn, tức là trí quán chiếu mười hai nhân duyên. Quán trí này gọi là Phật tính. Hàng nhị thừa dầu quán nhân duyên nhưng còn chẳng được gọi là Phật tính. Phật tính dầu là thường bởi chúng sinh bị vô minh che đậy nên không thấy được. Lội chưa qua được sông mười hai nhân duyên, dụ như thỏ và ngựa kia, vì chẳng thấy Phật tính.
Này Thiện nam tử! Trí huệ quán chiếu mười hai nhân duyên đây chính là chủng tử của vô thượng Bồ Đề. Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên gọi là Phật tính.
Ví như dưa hấu gọi là bệnh nhiệt, vì dưa này có thể làm nhân duyên bệnh nhiệt. Mười hai nhân duyên cũng như vậy.
Này Thiện nam tử! Phật tính có nhân, có nhân nhân, có quả, có quả quả.
Có nhân đó chính là mười hai nhân duyên. Nhân nhân đó chính là trí huệ. Có quả chính là vô thượng Bồ Đề. Quả quả đó chính là vô thượng Đại Niết Bàn.
Này Thiện nam tử! Như vô minh là nhân, hành là quả; hành là nhân, thức là quả. Do nghĩa này nên thể vô minh kia cũng là nhân, cũng là nhân nhân. Thức cũng là quả, cũng là quả quả. Phật tính cũng như vậy.
Này Thiện nam tử! Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng một, chẳng hai, chẳng đến, chẳng đi, chẳng chân, chẳng quả.
Là nhân mà chẳng phải quả như Phật tính.
Là quả mà chẳng phải nhân như Đại Niết Bàn.
Là nhân cũng là quả như những pháp do mười hai nhân duyên sinh.
Chẳng phải nhân chẳng phải quả gọi là Phật tính. Vì chẳng phải nhân quả nên thường hằng không biến đổi.
Do nghĩa này nên trong kinh Phật nói mười hai nhân duyên ý nghĩ rất sâu không thể biết, không thể thấy, chẳng thể nghĩ bàn, là cảnh giới của chư Phật và Bồ Tát, chẳng phải hàng Thanh Văn Duyên Giác đến được.
Do nghĩa gì mà là rất sâu? Nghiệp hạnh của chúng sinh chẳng thường chẳng đoạn mà có quả báo dầu niệm niệm diệt mà không mất, dầu không tác giả mà có tác nghiệp, dầu không thọ giả mà có quả báo. Thọ giả, dầu diệt mà quả chẳng hư. Không có lự tri nhưng hòa hiệp mà có. Tất cả chúng sinh dầu cùng đi với mười hai nhân duyên mà chẳng thấy chẳng biết. Vì chẳng thấy biết nên không có chung thủy. Bậc Thập trụ Bồ Tát chỉ thấy chung mà chẳng thấy thủy. Chư Phật thấy thủy thấy chung. Do nghĩa này nên chư Phật thấy Phật tính được rõ ràng. Tất cả chúng sinh vì chẳng thấy được mười hai nhân duyên nên phải luân chuyển.
Như tằm làm kén tự sống tự chết. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, vì chẳng thấy Phật tính nên tự tạo nghiệp mà lưu chuyển sinh tử, dường như đánh trái cầu.
Vì thế nên trong các kinh Phật nói: Nếu có người thấy được mười hai nhân duyên thời là thấy pháp, thấy pháp đó chính là thấy Phật. Phật đó chính là Phật tính, vì tất cả chư Phật dùng đây làm tính.
Này Thiện nam tử! Trí quán mười hai nhân duyên có bốn hạng: Một là hạ, hai là trung, ba là thượng, bốn là thượng thượng.
Quán trí bậc hạ chẳng thấy Phật tính, vì chẳng thấy nên chứng được đạo Thanh văn. Trí quán bậc trung chẳng thấy Phật tính, vì chẳng thấy nên chứng đặng đạo Duyên Giác. Trí quán bậc thượng thấy Phật tính chẳng rõ ràng, vì thấy chẳng rõ ràng nên trụ bậc thập trụ. Trí quán bậc thượng thượng thấy Phật tính rõ ràng nên chứng được vô thượng Bồ Đề. Do nghĩa đây nên mười hai nhân duyên gọi là Phật tính. Phật tính chính là đệ nhất nghĩa không. Đệ nhất nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn.
Sư Tử Hống Bồ Tát bạch Phật: “Thế Tôn! Nếu Phật cùng Phật Tính không sai khác, thời tất cả chúng sinh cần gì tu hành?”.
Phật bảo: “Này Thiện nam tử! Lời ông hỏi không đúng. Phật cùng Phật tính dầu không sai khác nhưng chúng sinh đều chưa đầy đủ. Ví như có người ác tâm muốn hại mẹ, hại rồi sinh lòng ăn năn, ba nghiệp dầu lành, nhưng người này vẫn gọi là người địa ngục, vì người này quyết định sẽ đọa địa ngục vậy. Hiện tại người này dầu không thân địa ngục nhưng vẫn gọi là người địa ngục.
Do đây nên trong các kinh Phật nói nếu thấy có người tu hành hạnh lành thời gọi là thấy người trời. Thấy người tạo ác thời gọi là thấy địa ngục. Vì quyết định sẽ thọ quả báo.
Này Thiện nam tử! Vì tất cả chúng sinh quyết định được vô thượng Bồ Đề nên Phật nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Nhưng thật ra tất cả chúng sinh chưa có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Do nghĩa đây nên nơi kinh này Phật nói kệ rằng:
Trước có nay không
Trước không nay có
Ba đời có pháp
Nghĩa này không đúng.
Này Thiện nam tử! Có ba thứ có: Một là vị lai có, hai là hiện tại có, ba là quá khứ có.
Tất cả chúng sinh vị lai sẽ có vô thượng Bồ Đề, đây gọi là Phật tính. Tất cả chúng sinh hiện tại điều có phiền não, nên hiện tại không có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tất cả chúng sinh quá khứ có dứt phiền não nên hiện tại được thấy Phật tính. Do nghĩa này Phật thường tuyên nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, nhẫn đến nhất xiển đề cũng có Phật tính.
Nhất xiển đề không có pháp lành. Phật tính là pháp lành vị lai họ sẽ có. Nhất xiển đề đều có Phật tính, vì họ quyết định sẽ đặng thành vô thượng Bồ Đề.
Ví như có người trong nhà có sữa lạc. Có người hỏi: Ông có tô không? Đáp rằng tôi có. Lạc thiệt chẳng phải tô, do phương tiện khéo, chắc sẽ đặng tô, nên đáp rằng có tô.
Chúng sinh cũng như vậy tất cả đều có tâm. Phàm người có tâm sẽ được thành vô thượng Bồ Đề. Do nghĩa đây nên Phật thường tuyên nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính.
Này Thiện nam tử! Tất cánh có hai thứ: Một là trang nghiêm tất cánh, hai là cứu cánh tất cánh. Và một là thế gian tất cánh, hai là xuất thế tất cánh.
Trang nghiêm tất cánh là sáu môn Ba La Mật. Cứu cánh tất cánh là nhất thừa của tất cả, chúng sinh chứng được. Nhất thừa đó gọi là Phật tính. Do nghĩa đây nên Phật nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tất cả chúng sinh đều có nhất thừa, vì vô minh che đậy nên chẳng thấy được.
Như Châu Uất Đơn Việt, Đao Lợi Thiên, vì quả báo che ngăn nên chúng sinh ở đây chẳng thấy được.
Phật tính cũng như vậy, do các phiền não kiết sử che ngăn nên chúng sinh chẳng thấy được.
Này Thiện nam tử! Phật tính chính là Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội tính như đề hồ, chính là mẹ của tất cả chư Phật. Do sức của Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội mà chư Phật được thường, lạc, ngã, tịnh. Tất cả chúng sinh đều có Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội vì chẳng tu hành nên không được thấy, vì thế nên không thể được thành vô thượng Bồ Đề.
Này Thiện nam tử! Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội có năm tên: Một là Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, hai là Bát Nhã Ba La Mật, ba là Kim Cang Tam Muội, bốn là Sư Tử Hống Tam Muội, năm là Phật tính. Tùy theo năng lực chỗ làm của Tam muội mà có tên khác nhau.
Này Thiện nam tử! Như một Tam Muội có nhiều tên, như thiền gọi là tứ thiền, căn gọi là định căn, lực gọi là định lực, giác gọi là định giác, chính gọi là chính định, bát đại nhân giác gọi là định giác, Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội cũng như vậy.
Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh đầy đủ ba môn định: Thượng, Trung và Hạ. Thượng là nói Phật tính, do đây nên nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Trung là tất cả chúng sinh đầy đủ sơ thiền, lúc có nhân duyên thời có thể tu tập, nếu không nhân duyên thời chẳng thể tu tập. Nhân duyên đây có hai thứ: Một là hỏa tai, hai là phá kiết sử cõi dục, do đây nên nói rằng tất cả chúng sinh đều đầy đủ định bậc Trung.
Hạ định là định tâm sở trong mười đại địa, do đây nên nói tất cả chúng sinh đều đầy đủ định bậc hạ.
Tất cả chúng sinh đều có Phật tính vì phiền não che đậy nên chẳng được thấy. Thập trụ Bồ Tát dầu thấy nhất thừa nhưng chẳng biết Như Lai là pháp thường trụ, do đây nên nói rằng Thập trụ Bồ Tát dầu thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng.
Này Thiện nam tử! Thủ Lăng gọi là nhất thiết sự tất cánh, “Nghiêm” là kiên, nhất thiết sự tất cánh mà đặng kiên cố gọi là Thủ Lăng Nghiêm. Do đây nên nói rằng Thủ Lăng Nghiêm định gọi là Phật tính.
Này Thiện nam tử! Một lúc nọ ta ở bên sông Ni Liên Thiền, bảo A Nan rằng: Nay ta muốn tắm rửa, ông nên lấy y và đem tháo đậu. Ta vào trong nước, tất cả loài chim cùng những loài ở trên đất, ở dưới nước đều tụ đến xem ngó ta. Lúc đó lại có năm trăm vị Phạm Chí đi đến bờ sông bảo nhau rằng: Thế nào mà được thân Kim Cương? Nếu giả sử ông Cù Đàm chẳng nói đoạn kiến, ta sẽ theo ông để thỉnh thọ trai pháp.
Này Thiện nam tử! Lúc đó ta dùng tha tâm trí biết tâm niệm của các Phạm Chí, bèn bảo họ rằng tại sao cho rằng ta nói đoạn kiến? Các Phạm Chí đáp: Lúc trước ở trong các kinh Cù Đàm nói tất cả chúng sinh đều không có ngã, đã nói không ngã sao lại chẳng phải đoạn kiến? Nếu không ngã thời ai trì giới? Ai phá giới?
Này các Phạm Chí! Ta nói tất cả chúng sinh đều không ngã. Ta cũng thường tuyên nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Phật tính đó há chẳng phải là ngã ư? Do nghĩa này nên ta chẳng nói đoạn kiến. Vì tất cả chúng sinh chẳng thấy Phật tính nên là vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh, đây thời gọi là nói đoạn kiến vậy.
Lúc đó các Phạm Chí nghe nói Phật tính chính là ngã, liền phát tâm vô thượng Bồ Đề, đồng thời xuất gia tu đạo Bồ Đề. Tất cả những loài chim bay cá lội, thú chạy cũng đều phát tâm vô thượng Bồ Đề, đã phát tâm rồi chúng nó liền được bỏ thân chim thú.
Này Thiện nam tử! Phật tính đây thiệt chẳng phải ngã, vì chúng sinh nên nói là ngã. Vì có nhân duyên nên Như Lai nói vô ngã là ngã, mà thật là vô ngã. Dầu nói như vậy nhưng không hư vọng. Vì có nhân duyên, Như Lai nói ngã là vô ngã, mà thiệt là có ngã. Vì thế giới chúng sinh nên dầu nói vô ngã mà không hư vọng. Phật tính vô ngã Như Lai nói là ngã, vì Phật tính là thường. Như Lai là ngã mà nói là vô ngã, vì được tự tại.
Sư Tử Hống Bồ Tát bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sinh đều có Phật tính như Kim Cang Lực Sĩ, do cớ gì mà tất cả chúng sinh chẳng được thấy.
Phật nói: “Này Thiện nam tử! Như sắc pháp dầu có màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hình chất dài ngắn, mà kẻ mù chẳng thấy. Dầu chẳng thấy nhưng cũng chẳng thể nói rằng không có xanh, vàng, đỏ, trắng hình chất dài ngắn. Vì dầu rằng người mù chẳng thấy, nhưng người mắt sáng thời được thấy.
Phật tính cũng như vậy, tất cả chúng sinh dầu chẳng được thấy, nhưng Thập Trụ Bồ Tát thấy được một ít phần, đức Như Lai thời thấy rõ hoàn toàn. Thập Trụ Bồ Tát thấy Phật tính như đêm tối thấy hình sắc, Đức Như Lai thấy Phật tính như giữa ban ngày thấy hình sắc.
Như người mắt lòa thấy hình sắc chẳng rõ ràng, lương y điều trị, do công dụng của thuốc nên được rõ ràng. Thập Trụ Bồ Tát cũng như vậy, dầu thấy Phật tính nhưng chẳng được rõ ràng, nhờ năng lực của Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội mà được thấy rõ ràng.
Này Thiện nam tử! Nếu có người thấy tất cả pháp là vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh, thấy chẳng phải tất cả pháp cũng là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, người như vậy thời chẳng thấy Phật tính.
Trên đây nói tất cả pháp đó là nói sinh tử. Còn chẳng phải tất cả pháp đó là nói Tam Bảo.
Hàng Thanh Văn Duyên Giác thấy tất cả pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh; thấy chẳng phải tất cả pháp cũng là vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh, vì thế nên chẳng thấy Phật tính.
Thập Trụ Bồ Tát thấy tất cả pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, còn chẳng phải tất cả pháp thời phần ít là thường, lạc, ngã, tịnh do đây nên trong mười phần thấy được một phần.
Chư Phật Thế Tôn thấy tất cả pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, thấy chẳng phải tất cả pháp là thường, lạc, ngã, tịnh. Vì thế nên Như Lai thấy Phật tính xem như trái A ma lặc trong bàn tay. Do nghĩa này nên Thủ Lăng Nghiêm định gọi là tất cánh.
Này Thiện nam tử! Như đêm mùng một dầu chẳng thấy mặt trăng nhưng chẳng được nói là không. Phật tính cũng như vậy, tất cả phàm phu dầu chẳng được thấy, cũng chẳng được nói rằng không có Phật tính.
Này Thiện nam tử! Phật tính là mười trí lực, bốn vô sở úy, đại bi tam niệm. Tất cả chúng sinh thời có ba thứ ấy, vì sau khi phá trừ phiền não thời được thấy. Hàng nhất xiển đề sau khi phá trừ nhất xiển đề thời có thể được ba thứ ấy. Do nghĩa này nên Phật thường tuyên nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính.
Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh đều đồng có mười hai nhân duyên, cũng có nội, cũng có ngoại.
Những gì là mười hai?
Phiền não quá khứ gọi là “Vô minh”, nghiệp quá khứ gọi là “hành”. Trong đời hiện tại, lúc sơ khởi thọ thai gọi là “thức”. Năm phần nhập thai chưa đủ bốn căn gọi là “danh sắc”. Đầy đủ bốn căn gọi là “lục nhập”. Chưa phân biệt khổ vui gọi là “xúc”. Nhiễm tập một ái gọi là “thọ”. Quen gần ngũ dục thời gọi là “ái”. Tham cầu trong và ngoài thời gọi là “thủ”. Vì sự trong ngoài mà khởi nghiệp thân, khẩu, ý đây gọi là “hữu”. Thức đời hiện tại gọi là vị lai “sinh”. Hiện tại danh sắc, lục, nhập, xúc, thọ thời gọi là vị lai “lão, bệnh, tử” vậy. Đây gọi là mười hai nhân duyên.
Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh dầu có mười hai nhân duyên như vậy, hoặc có kẻ chưa đủ như lúc Ca La Lã chết thời không có mười hai. Từ sinh đến lão tử thời đủ mười hai.
Chúng sinh cõi sắc không có ba thứ thọ, ba thứ xúc, ba thứ ái, không có già bệnh, nhưng cũng được gọi là đầy đủ mười hai.
Chúng sinh cõi vô sắc thời không có sắc nhẫn đến không lão bệnh, nhưng cũng được gọi là đủ mười hai, vì quyết định được vậy. Vì thế nên nói rằng chúng sinh đồng đầy đủ có mười hai nhân duyên.
Phật tính cũng như vậy, tất cả chúng sinh quyết định sẽ đặng thành vô thượng Bồ Đề. Do đây nên Phật nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính.
Này Thiện nam tử! Núi Tuyết có thứ cỏ tên nhẫn nhục, nếu bò ăn cỏ này thời sinh chất đề hồ. Trên núi ấy lại có thứ cỏ khác, nếu bò ăn thứ cỏ ấy thời không sinh chất đề hồ. Dầu không sinh chất đề hồ nhưng chẳng thể nói rằng trong núi Tuyết không có cỏ nhẫn nhục.
Phật tính cũng như vậy. Núi Tuyết là nói Như Lai, cỏ nhẫn nhục là nói Đại Niết Bàn, những cỏ khác là nói mười hai bộ kinh. Chúng sinh nếu có thể được nghe, được học hỏi Đại Niết Bàn thời thấy được Phật tính. Trong mười hai bộ kinh dầu chẳng nghe có, nhưng chẳng thể nói rằng không có Phật tính.
Này Thiện nam tử! Phật tính đây cũng là sắc, cũng là chẳng phải sắc, chẳng phải sắc chẳng phải là chẳng phải sắc; cũng là tướng cũng là chẳng phải tướng, chẳng phải tướng chẳng phải là chẳng phải tướng; cũng là một cũng là chẳng phải một, chẳng phải một chẳng phải là chẳng phải một; chẳng phải thường chẳng phải đoạn, chẳng phải chẳng phải thường, chẳng phải chẳng phải đoạn; cũng là có cũng là không, chẳng phải có chẳng phải không; cũng là tận cũng là chẳng phải tận, chẳng phải tận, chẳng phải là chẳng phải tận; cũng là nhân cũng là quả, chẳng phải nhân chẳng phải quả; cũng là nghĩa cũng là chẳng phải nghĩa, chẳng phải nghĩa chẳng phải là chẳng phải nghĩa; cũng là danh tự cũng là chẳng phải danh tự, chẳng phải danh tự chẳng phải là chẳng phải danh tự; cũng là khổ cũng là lạc, chẳng phải khổ chẳng phải lạc; cũng là ngã cũng là chẳng phải ngã, chẳng phải ngã chẳng phải là chẳng phải ngã; cũng là không cũng là chẳng phải không, chẳng phải là không chẳng phải là chẳng phải không.
Thế nào là sắc? Vì là thân kim cang. Thế nào là phi sắc? Vì mười tám pháp bất cộng chẳng phải là sắc pháp. Thế nào là chẳng phải sắc chẳng phải là chẳng phải sắc? Vì sắc cũng chẳng phải sắc không có tướng quyết định.
Thế nào là tướng? Vì là ba mươi hai tướng. Thế nào là chẳng phải tướng? Vì tất cả chúng sinh chẳng hiện được tướng tốt. Thế nào là chẳng phải tướng chẳng phải là chẳng phải tướng? Vì tướng cùng chẳng phải tướng không quyết địng vậy.
Thế nào là một? Vì tất cả chúng sinh đều là nhất thừa. Thế nào là chẳng phải một? Vì nói ba thừa vậy. Thế nào là chẳng phải một chẳng phải là chẳng phải một? Vì vô số pháp vậy.
Thế nào là chẳng phải thường? Vì từ nơi duyên mà thấy.
Thế nào là chẳng phải đoạn? Vì lìa đoạn kiến vậy.
Thế nào chẳng phải là chẳng phải thường, chẳng phải là chẳng phải đoạn? Vì không chung không thủy vậy.
Thế nào là có? Vì tất cả chúng sinh đều có. Thế nào là không? Vì từ phương tiện khéo mà đặng thấy vậy. Thế nào là chẳng phải có, chẳng phải không? Vì hư không tính vậy.
Thế nào gọi là tận? Vì đặng Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội. Thế nào là chẳng phải tận? Vì là thường vậy. Thế nào là chẳng phải tận, chẳng phải là chẳng phải tận? Vì tất cả tướng tận dứt hết vậy.
Thế nào là nhân? Vì liễu nhân vậy. Thế nào là quả? Vì quả quyết định vậy. Thế nào là chẳng phải nhân chẳng phải quả? Vì là thường vậy.
Thế nào là nghĩa? Vì đều có thể nhiếp lấy nghĩa không ngại. Thế nào là chẳng phải nghĩa? Vì chẳng thể nói vậy. Thế nào là chẳng phải nghĩa chẳng phải là chẳng phải nghĩa? Vì rốt ráo không vậy.
Thế nào là danh tự? Vì có tên gọi vậy. Thế nào là chẳng phải danh tự? Vì có tên mà thiệt không tên vậy. Thế nào là chẳng phải danh tự chẳng phải là chẳng phải danh tự? Vì dứt tất cả danh tự vậy.
Thế nào là cũng khổ cũng lạc? Vì các thọ duyên khởi vậy. Thế nào là chẳng phải khổ chẳng phải lạc? Vì dứt tất cả thọ vậy.
Thế nào là chẳng phải ngã? Vì chưa đầy đủ được tám thứ tự tại vậy. Thế nào là chẳng phải chẳng phải ngã? Vì là thường vậy. Thế nào là chẳng phải ngã chẳng phải là chẳng phải ngã? Vì chẳng tạo tác chẳng lãnh thọ vậy.
Thế nào là không? Vì là đệ nhất nghĩa không. Thế nào là chẳng phải không? Vì là thường vậy.Thế nào là chẳng phải không chẳng phải là chẳng phải không? Vì có thể là chủng tử cho pháp lành vậy.
Này Thiện nam tử! Nếu có người tư duy hiểu rõ được kinh Đại Niết Bàn những nghĩa như vậy, nên biết rằng người này thấy được Phật tính. Phật tính đó chẳng thể nghĩ bàn, là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải Thanh Văn Duyên Giác biết được.
Này Thiện nam tử! Phật tính chẳng phải là ấm, giới, nhập, chẳng phải trước không nay có, chẳng phải đã có rồi trở lại không, từ nơi nhân duyên lành mà chúng sinh đặng thấy.
Ví như khối sắt đen để vào lửa đốt thời đỏ, lấy ra nguội thời trở lại đen. Dầu vậy nhưng màu đen này chẳng phải trong chẳng phải ngoài, do nhân duyên mà có.
Phật tính cũng như vậy, lửa phiền não tắt dứt thời chúng sinh được nghe được thấy.
Này Thiện nam tử! Như hột giống biến diệt thời mầm mộng mọc lên, nhưng tính mầm mộng này chẳng phải trong chẳng phải ngoài. Nhẫn đến bông trái cũng như vậy, đều theo nơi duyên mà có.
Kinh Đại Niết Bàn vi diệu này thành tựu đầy đủ vô lượng công đức. Phật tính cũng như vậy đều là vô lượng vô biên công đức kết hợp mà thành tựu.
Sư Tử Hống Bồ Tát bạch rằng: “Thế Tôn! Bồ Tát thành tựu đầy đủ bao nhiêu pháp thời đặng thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng? Chư Phật Thế Tôn thành tựu bao nhiêu pháp mà được thấy






