Trang 02
Chủ nhật, 31/07/2016, 09:12
PHẨM CA DIẾP BỒ TÁT THỨ HAI MƯƠI BỐN
Trang 02
Trong khế kinh ta nói thân của Như Lai có hai thứ: Một là sinh thân, hai là pháp thân. Sinh thân là thân phương tiện ứng hóa. Thân này có thể nói là sinh già bệnh chết, cao thấp đen trắng, là đây là kia là học là vô học. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói thân Phật là pháp hữu vi. Pháp thân là thường lạc ngã tịnh, lìa hẳn tất cả sinh già bệnh chết, chẳng phải trắng đen, chẳng phải cao thấp, chẳng phải đây kia, chẳng phải học vô học, Phật ra đời hoặc chẳng ra đời vẫn thường trụ chẳng động không biến đổi. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta, bèn cho rằng đức Như lai quyết định nói thân Phật là pháp vô vi.
Này Thiện Nam Tử! Trong khế kinh ta nói mười hai nhân duyên: Từ vô minh sinh ra hành, từ hành sinh ra thức, từ thức sinh ra danh sắc, từ danh sắc sinh ra lục nhập, từ lục nhập sinh ra xúc, từ xúc sinh ra thọ, từ thọ sinh ra ái, từ ái sinh ra thủ, từ thủ sinh ra hữu, từ hữu sinh ra sinh, từ sinh thời có già chết buồn khổ. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn nói rằng đức Như Lai nói mười hai nhân duyên quyết định là hữu vi.
Lại một ngày kia ta bảo các Tỳ Kheo rằng mười hai nhân duyên tính tướng là thường trụ không luận có Phật hay không Phật. Có mười hai duyên chẳng từ duyên sinh, có từ duyên sinh chẳng phải mười hai duyên, có từ duyên sinh cũng là mười hai duyên, có chẳng phải duyên sinh mà cũng chẳng phải là mười hai duyên.
Có mười hai duyên chẳng phải là duyên sinh, chính là mười hai chi đời vị lai. Có từ duyên sinh mà chẳng phải là mười hai chính là thân ngũ ấm của A La Hán. Có từ duyên sinh cũng là mười hai duyên chính là thân ngũ ấm của phàm phu. Mười hai nhân duyên chẳng phải là duyên sinh, chẳng phải mười hai duyên chính là hư không Niết Bàn.
Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta, bèn cho rằng đức Như Lai nói mười hai nhân duyên quyết định là vô vi.
Này Thiện Nam Tử! Trong khế kinh ta nói tất cả chúng sinh tạo nghiệp thiện ác, lúc chết, tứ đại này liền hư hoại. Người tạo nghiệp thuần thiện tâm thức liền đi lên, người tạo nghiệp thuần ác tâm thức liền đi xuống. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói tâm quyết định là thường trụ.
Này Thiện Nam Tử! Một thuở kia ta nói với vua Tần Bà Ta La rằng: Này Đại vương! Sắc là vô thường vì từ nhân vô thường mà sinh ra sắc. Nếu sắc đã từ nhân vô thường mà sinh, người trí không bao giờ nói sắc là thường. Nếu sắc là thường lẽ ra chẳng hoại diệt sinh các khổ não. Nay thấy sắc hoại diệt nên biết rằng sắc là vô thường. Như sắc, thọ tưởng hành thức cũng như vậy.
Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói tâm quyết định đoạn diệt.
Này Thiện Nam Tử! Trong khế kinh ta nói hàng đệ tử lãnh thọ những hoa hương vàng bạc vật báu vợ con tôi tớ, tám vật bất tịnh chứng được chính đạo cũng chẳng rời bỏ những vật ấy. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói hưởng thọ ngũ dục chẳng chướng ngại thánh đạo.
Lại có lúc ta nói người tại gia không thể chứng được chính đạo. Hàng đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói hưởng thọ ngũ dục quyết định chướng ngại chính đạo.
Trong khế kinh ta nói xa lìa phiền não chưa được giải thoát như cõi dục tu tập pháp thế đệ nhất. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói pháp thế đệ nhất chỉ là cõi dục.
Trong khế kinh ta lại nói noãn pháp, đỉnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhất pháp thuộc nơi sơ thiền đến tứ thiền. Với các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói bốn pháp ấy thuộc nơi cõi sắc. Trong khế kinh ta lại nói hàng ngoại đạo đã dứt được phiền não cõi tứ thiền tu tập noãn pháp đỉnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhất pháp, quán tứ đế chứng quả A Na Hàm. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói thế đệ nhất pháp thuộc nơi cõi vô sắc.
Trong khế kinh ta từng nói trong bốn thứ bố thí có ba điều trong sạch: Một là thí chủ tin nhân tin quả tin bố thí, người thọ chẳng tin nhân, chẳng tin quả cùng bố thí, hai là thí chủ chẳng tin nhân quả và bố thí, người thọ tin nhân quả và bố thí; ba là thí chỉ và người thọ cả hai đều có lòng tin; bốn là thí chủ và người thọ cả hai đều chẳng tin. Bốn thứ bố thí trên đây ba hạng ban đầu là trong sạch. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói bố thí chỉ thuộc nơi ý.
Có một lúc kia ta lại nói rằng người bố thí lúc bố thí đem năm việc ra bố thí: Một là bố thí sắc, hai là bố thí sức lực, ba là bố thí an ổn, bốn là bố thí mạng sống, năm là bố thí biện tài, do nhân duyên này nên thí chủ trở lại được năm quả báo. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Phật nói bố thí tức là năm ấm.
Có một lúc ta nói rằng: Niết Bàn tức là viễn ly, phiền não dứt hẳn không còn thừa sót, như đèn đã tắt, không còn pháp gì sinh trở lại, Niết Bàn cũng như vậy.
Nói hư không đó tức là không chỗ có, như trong đời gọi chỗ không có là hư không, chẳng phải do trí dứt mới không chỗ có. Nếu hư không là có lẽ ra phải có nhân duyên nếu đã có nhân duyên lẽ ra phải có dứt diệt, bởi hư không vốn là không nên không có dứt diệt. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Phật nói không có ba pháp vô vi.
Một lúc kia ta bảo Mục Kiền Liên rằng luận về Niết Bàn tức là chương cú, tức là dấu vết, tức là chỗ rốt ráo, là chỗ vô sở úy, là bậc đại sư, là đại quả, là trí rốt ráo, là đại nhẫn, là vô ngại tam muội, là đại pháp giới, là cam lộ vị, là khó thấy biết. Này Mục Kiền Liên! Nếu nói rằng không Niết Bàn, tại sao có người sinh lòng hủy báng Niết Bàn lại phải đọa địa ngục. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có Niết Bàn.
Lại một lúc kia ta bảo Mục Kiền Liên rằng nhãn căn chẳng bền chắc nhẫn đến thân cũng chẳng bền chắc. Vì chẳng bền chắc nên gọi là hư không. Ăn nuốt xuống rồi xoay chuyển tiêu hóa. Tất cả âm thanh đều gọi là hư không. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có hư không vô vi.
Ta lại bảo Mục Kiền Liên có người chưa được quả Tu Đà Hoàn, lúc trụ nơi nhẫn pháp, dứt vô lượng quả báo trong ba đường dữ, nên biết rằng chẳng phải trừ nơi trí mà dứt diệt. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta, bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có chẳng phải do trí mà dứt diệt. Lại một lúc kia ta nói với Tỳ Kheo Bạt Ba nếu Tỳ Kheo quán nơi sắc : Hoặc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc gần hoặc xa, hoặc thô hoặc tế, những sắc như vậy chẳng phải là ngã chẳng phải ngã sở: Quán như vậy có thể dứt được lòng tham ái nơi sắc, _ Bạt Ba bạch rằng: Thế nào gọi là sắc?
Ta đáp: Tứ đại gọi rằng sắc, thọ tưởng hành thức bốn ấm này gọi là danh. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói sắc là tứ đại.
Này Thiện Nam Tử! Ta lại nói rằng như nhân nơi mặt gương mà có bóng hình hiện ra, sắc cũng như vậy nhân nơi tứ đại tạo thành. Chính là những thứ to, nhỏ, rít, trơn, xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, vắn, vuông, tròn, cong , ngay, nhẹ, nặng, lạnh, nóng, đói khát, khói, mây, bụi mù, đây gọi là những sắc do tứ đại tạo thành dường như vang bóng. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có tứ đại thời có sắc do tứ đại tạo thành, hoặc nói có tứ đại mà không có sắc.
Này Thiện Nam Tử! Trước kia Phương Tử Bồ Đề nói rằng nếu có Tỳ Kheo trì giới lúc phát tâm ác, nên biết rằng lúc đó mất giới Tỳ Kheo. Ta nghe lời này bèn bảo rằng: Này Phương Tử! Giới có bảy thứ từ nơi thân và miệng mà có vô tác biểu sắc. Do nhân duyên vô tác biểu sắc này nên dầu tâm của Tỳ Kheo ở trong ác vô ký nhưng chẳng gọi là mất giới, vẫn còn gọi là trì giới. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Phật nói có vô tác biểu sắc.
Này Thiện Nam Tử! Trong các kinh khác ta có nói rằng giới chính là ngăn chế pháp ác, nếu chẳng làm ác đây gọi là trì giới. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn xướng rằng đức Như Lai quyết định nói không có vô tác biểu sắc.
Này Thiện Nam Tử! Trong khế kinh ta từng nói sắc ấm của thánh nhân nhẫn đến thức ấm đều là do vô minh sinh ra. Tất cả phàm phu cũng như vậy, từ vô minh sinh ra ái, nên biết rằng ái này chính là vô minh, từ ái sinh ra thủ, nên biết rằng thủ này chính là vô minh ái. Tù thủ sinh ra hữu, hữu này chính là vô minh ái thủ. Từ hữu sinh ra thọ, nên biết rằng thọ này chính là hành hữu. Từ nơi thọ sinh ra danh sắc, vô minh ái, thủ, hữu, hành, thọ, xúc, thức, lục, nhập v.v… do đây nên thọ chính là mười hai chi. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói không có tâm sở.
Này Thiện Nam Tử! Trong khế kinh ta từng nói từ nơi nhãn, sắc, minh và ác dục, do bốn thứ này làm nhân duyên sinh ra nhãn thức. Ác dục trong đây chính là vô minh, lúc dục cầu thời gọi là ái, do ái mà có thủ, thủ đây gọi là nghiệp, nghiệp làm duyên cho thức, thức làm duyên cho danh sắc, danh sắc làm duyên cho lục nhập, lục nhập làm duyên cho xúc, xúc làm duyên cho tưởng thọ ái, tín, tinh tấn định và huệ, những pháp này nhân nơi xúc mà sinh nhưng chẳng phải là xúc. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có tâm sở.
Này Thiện Nam Tử! Hoặc có lúc ta nói chỉ có một cỏi, hoặc nói hai ba bốn năm sáu mười tám chín nhẫn đến hai mươi lăm cõi. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có năm cõi, hoặc nói có sáu cõi.
Này Thiện Nam Tử! Ngày trước lúc ở nơi rừng Ni Câu Đà tại thành Ca Tỳ La Vệ, Thích Ma Nam bạch với ta rằng: Thế Tôn sao gọi là Ưu Bà Tắc? Ta nói: Nếu có Thiện nam tử hoặc Thiện nữ nhân nào căn thân đầy đủ thọ ba pháp quy y thời gọi là Ưu Bà Tắc. Thích Ma Nam lại hỏi: Thế Tôn sao gọi là nhất phần Ưu Bà Tắc? Ta nói: Nếu thọ ba pháp quy y và thọ một giới thời gọi là nhất phần Ưu Bà Tắc. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Ưu Bà Tắc được thọ từ phần.
Lại một lúc kia ta ở bên sông Hằng, Ca Chiên Diên đến bạch với ta rằng: Thế Tôn! Tôi giáo hoá chúng sinh khiến họ thọ pháp bát quan trai: Hoặc một ngày, hoặc một đêm, hoặc một giờ, hoặc một niệm, những người này được thành trai pháp chăng? Ta nói: Này Ca Chiên Diên, những người này chỉ được điều lành mà chẳng được gọi là được trai pháp. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn nói rằng đức Như Lai nói pháp bát quan trai thọ đủ mới được.
Trong khế kinh ta từng nói rằng nếu có Tỳ Kheo đã phạm bốn tội trọng thời chẳng gọi là Tỳ Kheo, gọi là phá Tỳ Kheo, hư mất Tỳ Kheo chẳng còn có thể sinh chủng tử pháp lành, như hột giống đã cháy chẳng còn mọc mầm sinh bông trái, như cây đa la nếu ngọn đã bị đứt thời chẳng còn sinh trái. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói các Tỳ Kheo phạm giới trọng rồi bèn mất giới Tỳ Kheo.
Trong khế kinh , ta vì Thuần Đà mà nói bốn hạng Tỳ Kheo: Một là hạng rốt ráo đến chính đạo, hai là hạng chỉ bày chính đạo, ba là hạng lãnh thọ chính đạo, bốn là hạng nhiễm ô chính đạo. Người phạm bốn tội trọng là hạng nhiễm ô chính đạo. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói các Tỳ Kheo đã phạm bốn tội trọng chẳng mất giới.
Trong khế kinh ta bảo các Tỳ Kheo có nhất thừa, nhất đạo, nhất hạnh, nhất duyên, bốn pháp này có thể làm cho chúng sinh được đại tịch tịnh, dứt hẳn tất cả sự ràng buộc sầu khổ, khổ quả cùng khổ nhân, làm cho tất cả chúng sinh đến nơi nhất thừa. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Tu Đà Hoàn nhẫn đến A La Hán đều được Phật đạo.
Này Thiện Nam Tử! Trong khế kinh ta nói Tu Đà Hoàn bảy lần sinh qua lại trong nhân gian cùng cõi trời, bèn chứng A La Hán nhập Niết Bàn. Tư Đà Hàm một lần sinh trong nhân gian và cõi trời bèn nhập Niết Bàn. A Na Hàm phàm có năm hạng: Hoặc có trung gian nhập Niết Bàn nhẫn đến thượng lưu nhập Niết bàn. A La Hán phàm có hai hạng: Một là hiện tại, hai là vị lai, hiện tại cũng dứt phiền não ngũ ấm, vị lai cũng dứt phiền não ngũ ấm. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Tu Đà Hoàn đến A La Hán chẳng được Phật đạo.
Trong khế kinh ta từng nói Phật tính đủ có sáu điều: Một là thường, hai là thật, ba là chân, bốn là thiện, năm là tịnh, sáu là có thể thấy. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tính của chúng sinh rời ngoài chúng sinh mà có.
Ta lại nói Phật tính của chúng sinh như hư không. Hư không chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, chẳng phải nội ngoại, chẳng phải sắc thinh hương vị xúc, Phật tính cũng như vậy. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tính của chúng sinh rời ngoài chúng sinh mà có.
Ta lại nói Phật tính của chúng sinh dường như kho châu báu ẩn kín trong nhà của bần nữ, như Kim Cang bảo châu ẩn trên trán của lực sĩ, như suối Cam Lộ của Chuyển Luân Thánh Vương. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tính của chúng sinh rời ngoài chúng sinh mà có.
Ta lại nói hàng Nhất Xiển Đề phạm bốn tội trọng, hủy báng kinh điển Đại thừa, tạo tội ngũ nghịch đều có Phật tính. Những chúng sinh này đều không có pháp lành. Phật tính là lành. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói Phật tính của chúng sinh rời ngoài chúng sinh mà có.
Ta lại nói chúng sinh chính là Phật tính, vì nếu rời chúng sinh thời chẳng được vô thượng Bồ Đề. Do đây nên ta vì vua Ba Tư Nặc mà nói ví dụ rờ voi: Như bọn người mù nói hình dạng của voi, dầu chẳng trúng nhưng đều chẳng rời ngoài voi. Chúng sinh nói sắc, nói thọ tưởng hành thức là Phật tính cũng như vậy, dầu chẳng phải là Phật tính nhưng chẳng phải rời Phật tính. Như ta vì vua Ba Tư Nặc mà nói ví dụ ống không hầu Phật tính cũng như vậy. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn lập ra nhiều thuyết khác nhau, như người mù hỏi màu của sữa, Phật tính cũng như vậy. Do cớ này, hoặc có người nói hàng Nhất Xiển Đề phạm bốn tội trọng hủy báng kinh Đại Thừa tạo tội ngũ nghịch đều có Phật tính. Hoặc có người nói là không có Phật tính.
Trong khế kinh nhiều lần ta nói rằng một người xuất thế thời nhiều người được lợi ích. Trong một cõi nước không có hai vua Chuyển Luân. Trong một thế giới không có hai đức Phật xuất thế. Một tứ thiên hạ không có tám Tứ Thiên Vương, nhẫn đến không có hai Tha Hoá Tự Tại Thiên. Ta nói từ Diêm Phù Đề, dưới đến địa ngục A Tỳ, trên đến trời Sắc Cứu cánh. Các đệ tử của ta nghe lời này chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói không có Phật mười phương. Thật ra trong các kinh Đại Thừa ta nói có thập phương chư Phật.
Này Thiện Nam Tử! Những điều tranh tụng như vậy là cảnh giới của chư Phật chẳng phải hàng Thanh Văn Duyên Giác biết được. Nếu người nào đối với những việc này sinh lòng nghi còn có thể phá hoại được vô lượng phiền não. Nếu người nào ở trong những việc này sinh lòng quyết định thời gọi là chấp trước.
Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật rằng: Thế nào là chấp trước?
Này Thiện Nam Tử! Những người như vậy hoặc do người khác dạy bảo, hoặc nghe người khác nói, hoặc tự tìm kinh điển, với những điều ham thích chẳng thể buông bỏ đây gọi là chấp trước.
- Bạch Thế Tôn! Sự chấp trước này là thiện hay là bất thiện?
Này Thiện Nam Tử! Sự chấp trước như vậy chẳng gọi là thiện, vì không thể phá hoại những lưới nghi.
- Bạch Thế Tôn! Những người này vốn tự chẳng nghi, sao lại nói rằng chẳng phá hoại lưới nghi?
Này Thiện Nam Tử! Luận về người chẳng nghi chính là nghi.
- Bạch Thế Tôn! Nếu có người nói rằng bậc Tu Đà Hoàn chẳng đọa ba ác đạo. Người này cũng nên gọi là chấp trước, là nghi.
Này Thiện Nam Tử! Nên gọi là quyết định, mà chẳng được gọi là nghi. Tại sao vậy? Này Thiện Nam Tử! Như có người trước kia thấy cây thấy người, về sau đi ban đêm từ xa thấy gốc cây trụi, bèn nghi rằng đó là người hay là cây? Như người trước thấy Tỳ Kheo và Phạm Chí, lúc sau đi đường từ xa thấy Tỳ Kheo bèn nghi rằng đó là Sa Môn hay là Phạm Chí? Như người trước thấy bò và trâu, lúc sau từ xa thấy bò, bèn nghi rằng đó là bò hay trâu?
Này Thiện Nam Tử! Tất cả chúng sinh trước thấy hai vật về sau bèn sinh nghi, vì trong tâm họ chẳng nhận được rõ ràng.
Ta cũng chẳng nói rằng bậc tu Đà Hoàn có đọa ba đường ác hay chẳng đọa ba đường ác, cớ gì người này lại sinh lòng nghi!
- Bạch Thế Tôn! Như Phật nói phải trước có thấy rồi sau mới nghi. Nhưng có người lúc chưa thấy hai vật cũng lại sinh nghi. Như đối với Niết Bàn. Như có người đi đường gặp dòng nước đục, trước kia chưa từng thấy mà cũng sinh nghi rằng dòng nước này sâu hay cạn.
Này Thiện Nam Tử! Luận về Niết Bàn chính là dứt khổ, chẳng phải là Niết Bàn thời chính là khổ. Tất cả chúng sinh thấy có khổ cùng chẳng phải khổ. Như thấy đói khát, lạnh nóng, giận mừng, bệnh gầy, an ổn, trẻ, già, sống chết, trói buộc, cởi mở, ân ái biệt ly, oán thù gặp gỡ, sau khi thấy những việc này, chúng sinh bèn nghi rằng sẽ có những gì xa lìa vĩnh viễn những sự khổ não này chăng? Do đây nên chúng sinh đối với Niết Bàn mà sinh nghi.
Nếu ông cho rằng người đó từ trước đến nay chưa từng thấy dòng nước đục này sao lại sinh nghi. Lời nói này không đúng nghĩa, vì người đó ở nơi chỗ khác đã từng thấy rồi, nên ở nơi chỗ mới đến này mà sinh nghi.
- Bạch Thế Tôn! Người đó lúc trước thấy nước sâu cạn đã chẳng sinh nghi, nay cớ gì mà sinh nghi?
Này Thiện Nam Tử! Vì trước kia chưa đi nên sinh nghi. Do đây nên ta nói rằng vì trong tâm họ chẳng nhận được rõ ràng nên sinh nghi.
- Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói nghi chính là chấp trước, chấp trước chính là nghi, đây là ngườ nào?
Này Thiện Nam Tử! Là người dứt căn lành.
- Bạch Thế Tôn! Những hạng người nào có thể dứt căn lành.
Này Thiện Nam Tử! Người thông minh lanh lợi có thể khéo phân biệt, nếu xa lìa bạn lành chẳng nghe chính pháp, chẳng khéo tư duy, chẳng thật hành đúng pháp, người này có thể dứt căn lành.
Người thông minh này vì thiếu bốn điều trên mà tự suy nghĩ rằng: Không có vật bố thí, vì người thí là rời bỏ của cải, nếu bố thí mà có quả báo, thời thí chủ phải thường nghèo cùng, vì nhân cùng quả giống nhau. Do suy nghĩ những việc như vậy nên người này nói rằng không nhân không quả. Nếu nói không nhân không quả như vậy thời gọi là dứt căn lành.
Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Thí chủ, người thọ và tài vật đều là vô thường biến đổi, nếu không biến đổi sao lại nói rằng đây là thí chủ, đây là người thọ, đây là của cải, nếu không người thọ sao lại được quả báo, do nghĩa này nên biết rằng không nhân không quả. Nếu nói không nhân không quả như vậy thời gọi là dứt căn lành.
Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Lúc thí chủ bố thí có năm sự bố thí: Người thọ thí khi lãnh được của cải rồi hoặc làm lành, hoặc làm điều chẳng lành, mà thí chủ này cũng chẳng mắc phải quả báo lành hay chẳng lành, như trong đời từ hột sinh ra trái, rồi từ trái trở lại có hột. Nhân chính là thí chủ, quả chính là người thọ, mà người thọ này không thể đem điều thiện, điều bất thiện của mình đã làm khiến cho thí chủ được quả báo thiện cùng bất thiện, do nghĩa này nên không nhân không quả. Nếu nói không nhân không quả như vậy, nên biết người này có thể dứt căn lành.
Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Không có vật bố thí, vì vật bố thí là vô ký, đã là vô ký thời đâu có quả báo lành, không quả báo lành tức là vô ký, của vật nếu là vô ký nên biết rằng không có quả báo thiện ác, nên không có sự bố thí không nhân không quả. Nếu nói rằng không nhân không quả như vậy phải biết người này có thể dứt căn lành.
Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Người bố thí do nơi ý, ý này chẳng phải là sắc pháp, không thể thấy không đối tượng, đã chẳng phải là sắc pháp thời đâu có thể bố thí, do đây nên không có sự bố thí không nhân không quả. Nếu nói không nhân không quả như vậy, phải biết rằng người này có thể dứt căn lành.
Người thông minh lại suy nghĩ rằng: Nếu thí chủ cúng thí cho tượng Phật, tượng chư Thiên cho cha mẹ đã qua đời, như vậy là có người thí mà không người thọ, nếu không người thọ thời lẽ ra không quả báo, nếu không quả báo thời là không nhân, nếu đã không nhân thời là không quả. Nếu nói không nhân quả như vậy, phải biết rằng người này có thể dứt căn lành.
Người thông minh này lại suy nghĩ rằng: Không cha không mẹ. Nếu nói cha mẹ là nhân sinh ra chúng sinh, đúng lý phải thường sinh không có đoạn tuyệt, vì nhân là thường có, nhưng chẳng thường sinh, do đây nên biết rằng không có cha mẹ. Người này lại nghĩ rằng: Không cha không mẹ. Vì nếu thân chúng sinh do cha mẹ mà có, lẽ ra một người phải đủ cả hai căn nam nữ, nhưng sự thật không có đủ, do đây biết rằng chúng sinh chẳng phải do cha mẹ mà có. Người này lại nghĩ rằng chẳng phải do cha mẹ mà có ra chúng sinh, vì chính mắt họ thấy chúng sinh chẳng giống với cha mẹ, nghĩa là thân hình diện mạo tâm tính đi đứng cử động chẳng giống với cha mẹ, nên cha mẹ chẳng phải là nhân sinh ra chúng sinh. Người này lại nghĩ rằng trong đời có bốn thứ không có: Một là chưa sinh gọi là không có, như lúc còn là viên đất sét thời chưa có công dụng của cái bình; hai là đã diệt mất gọi là không có, như cái bình đã bể hư thời gọi là không có; ba là riêng khác nhau nên lẫn không có, như trong bò không có ngựa trong ngựa không có bò; bốn là rốt ráo gọi là không có, như sừng thỏ lông rùa. Cha mẹ cũng đồng như bốn thứ không có này. Nếu nói cha mẹ là nhân có ra chúng sinh, lúc cha mẹ chết đứa con bất tất cũng chết, do đây nên cha mẹ chẳng phải là nhân sinh ra chúng sinh. Người này lại nghĩ rằng: Nếu nói cha mẹ là nhân sinh ra chúng sinh, lẽ ra nhân nơi cha mẹ thường sinh ra chúng sinh, nhưng lại có hóa sinh và thấp sinh, do đây nên biết chẳng phải nhân nơi cha mẹ sinh ra chúng sinh. Người này lại nghĩ rằng: Tự có chúng sinh chẳng phải nhân nơi cha mẹ mà được sinh trưởng như chim công nghe tiếng sấm nổ mà có trứng, như chim thanh tước uống nước mắt của chim tước trống mà có trứng, như chim cộng mạng thấy chim trống múa bèn có trứng. Người này lúc suy nghĩ những điều trên đây nếu chẳng gặp được bậc thiện tri thức khai thị, phải biết rằng người này có thể dứt căn lành.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Trong đời không có quả thiện ác, vì có những chúng sinh tu tập đủ mười điều lành, ưa thật hành bố thí siêng làm công đức, mà những người này cũng lại bị các bệnh tật nhóm trên thân, hoặc chết yểu, hoặc mất của, hoặc nhiều sự lo khổ. Cũng có những người tạo đủ mười điều dữ, tham lam bỏn xẻn tật đố giải đãi, mà lại mạnh khỏe sống lâu, hoặc giàu có không sầu khổ, do đây nên biết rằng không có quả thiện ác. Người này lại nghĩ rằng: Tôi cũng từng nghe các thánh nhân nói có người tu tập pháp lành khi chết bị đọa trong ba đường dữ. Có người làm điều ác khi chết sinh trong loài người trên trời, do đây nên biết rằng không quả thiện ác. Người này lại nghĩ rằng: Các thánh nhân nói hai thuyết: Hoặc nói sát sinh được quả báo lành, hoặc nói sát sinh mắc quả báo dữ. Thánh nhân còn nói bất định, tại sao tôi lại nói quyết định, do đây nên biết không có quả thiện ác.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Trong đời không có thánh nhân, vì nếu nói là thánh nhân thời phải chứng được thánh đạo. Tất cả chúng sinh lúc có đủ phiền não tu hành chính đạo, nên biết rằng người này đồng thời đủ có phiền não và chính đạo. Nếu đồng thời có thời chính đạo chẳn g phá được kiết sử. Nếu không phiền não mà tu hành chính đạo, thời chính đạo ấy dùng làm gì? Do đây nên người đủ phiền não thời chính đạo chẳng thể phá hoại được, người không phiền não thời chính đạo lại vô dụng. Do đây nên biết trong đời không có bậc thánh nhân.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Vô minh làm duyên cho hành, nhẫn đến sinh làm duyên cho lão tử, mười hai nhân duyên này tất cả chúng sinh đồng có. Tám thánh đạo tính nó bình đẳng cũng như vậy, lúc một người được, thời tất cả người lẽ ra cũng được, lúc một người tu hành lẽ ra tất cả khổ đều diệt, vì phiền não bình đẳng. Mà nay chẳng đồng chứng đặng, do đây nên biết rằng không có chính đạo.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Các thánh nhân đều có những pháp đồng với phàm phu, như là uống ăn, đi đứng ngồi nằm, ngủ nghỉ, vui cười, đói khát, lạnh nóng, lo buồn sợ sệt. Nếu đã đồng với phàm phu có những việc như vậy, nên biết rằng bậc thánh nhân chẳng chứng được thánh đạo, nếu đã được thánh đạo lẽ ra phải dứt hẳn những việc như vậy. Những việc như vậy nếu đã chẳng dứt, do đây nên biết rằng không thánh đạo.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Thánh nhân có thân thọ vui ngũ dục, cũng mắng nhiếc đánh đập người, cũng tật đố kiêu mạn thọ những sự khổ vui, tạo nghiệp thiện ác, do đây nên biết rằng không có thánh nhân. Nếu có chính đạo lẽ ra đã dứt những việc này, nếu những việc này chẳng dứt nên biết rằng không chính đạo.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Người nhiều lòng từ mẫn gọi là thánh nhân. Do nhân duyên gì gọi là thánh nhân? Nhân nơi thánh đạo mà gọi là thánh nhân. Nếu tính của thánh đạo là từ mẫn, thời nên thương xót tất cả chúng sinh, chẳng cần chờ tu hành rồi mới đặng. Nếu như không từ mẫn cớ sao thánh nhân chứng được thánh đạo lại hay từ mẫn, do đây nên biết trong đời không có thánh đạo.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Tất cả tứ đại chẳng từ nhân duyên sinh. Chúng sinh đồng có tính tứ đại này. Chẳng quán sát chúng sinh đáng đến bờ này, chẳng đáng đến bờ kia, nếu là có thánh đạo, thời tính của thánh đạo lẽ ra cũng như vậy, nhưng nay chẳng phải như vậy, do đây nên biết rằng trong đời không có thánh nhân.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Nếu các bậc thánh nhân có một Niết Bàn thời nên biết rằng không có thánh nhân. Vì Niết Bàn là bất khả đắc. Pháp thường trụ là bất khả đắc chẳng thể lấy chẳng thể bỏ. Nếu các bậc thánh nhân có nhiều Niết Bàn thời là vô thường, vì là pháp có thể đếm được. Niết Bàn nếu là một, lúc một người được thời lẽ ra tất cả đều được. Nếu Niết Bàn là nhiều thời là có chừng ngằn, nếu là có chừng ngắn thời đâu được gọi là thường trụ. Nếu nói rằng thể của Niết Bàn là một, mà người giải thoát là nhiều, như một cây lọng là một mà cọng cánh lá nhiều, lời nói này chẳng đúng nghĩa, vì mỗi người chứng đặng chẳng phải tất cả người chứng đặng, bởi có chừng ngằn lẽ ra là vô thường nếu đã là vô thường thời đâu được gọi là Niết Bàn. Nếu không có Niết Bàn thời ai là bậc thánh nhân? Do đây nên biết rằng không có thánh nhân.
Người thông minh này lại nghĩ rằng: Chính đạo của thánh nhân chẳng phải do nhân duyên mà được. Nếu chính đạo của thánh nhân đã chẳng phải do nhân duyên mà được, cớ sao tất cả chúng sinh chẳng làm thánh nhân. Nếu tất cả người chẳng phải là thánh nhân, thời biết rằng không có thánh nhân và không có thánh đạo.
Người thông minh lại nghĩ rằng: Thánh nhân nói có hai nhân duyên được chính kiến: Một là nghe người khác thuyết pháp, hai là tự mình tư duy. Hai nhân duyên này đã từ duyên sinh, thời duyên này lại từ duyên khác mà sinh, xoay vần mãi như vậy thành ra có lỗi vô cùng. Nếu hai nhân duyên này chẳng từ duyên sinh, thời tất cả chúng sinh do cớ gì mà chẳng đều được.
Lúc người thông minh này suy nghĩ những điều như trên thời có thể dứt mất căn lành.
Này Thiện Nam Tử! Nếu có chúng sinh nào chấp chặt những điều không nhân không quả như vậy người này có thể dứt mất năm căn: Tín, tấn, niệm, định và huệ. Người dứt mất căn lành chẳng phải là người hạ liệt, ngu độn, cũng chẳng phải chư thiên, chẳng phải ba ác đạo. Người phá Tăng cũng như vậy.
Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Người như vậy, lúc nào sẽ có thể sinh căn lành trở lại.
Này Thiện Nam Tử! Người này có hai lúc sinh căn lành trở lại: Lúc mới vào địa ngục và lúc ra khỏi địa ngục.
Này Thiện Nam Tử! Căn lành có ba thứ: Quá khứ, hiện tại và vị lai. Nếu là quá khứ thời tính nó tự diệt, dầu nhân diệt nhưng quả báo chưa thục nên chẳng gọi là dứt quả quá khứ. Vì dứt nhân lành ba đời nên gọi là dứt mất.
- Bạch Thế Tôn! Nếu dứt nhân lành ba đời mà gọi là mất căn lành, người dứt căn lành vẫn có Phật tính, Phật tính này là quá khứ, là hiện tại, là vị lai, hay là khắp cả ba đời? Nếu là quá khứ thế nào gọi là thường. Phật tính là thường trụ nên biết rằng không phải là quá khứ. Nếu là vị lai thế nào gọi là thường? Cớ sao Phật nói rằng tất cả chúng sinh quyết định sẽ được? Nếu quyết định được thời sao lại nói rằng dứt mất? Nếu là hiện tại sao lại là thường? Cớ sao lại nói rằng quyết định có thể thấy?
Đức Như Lai cũng nói rằng Phật tính cũng có sáu: Một là thường, hai là chân, ba là thật, bốn là thiện, năm là tịnh, sáu là có thể thấy. Nếu người dứt mất thiện căn mà có Phật tính thời chẳng được gọi là dứt mất căn lành. Nếu không có Phật tính sao lại nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Nếu nói rằng Phật tính cũng có, cũng dứt, thế nào đức Như Lai lại nói Phật tính là thường trụ?
- Này Thiện Nam Tử! Đức Như Lai vì chúng sinh nên có ba thứ giải đáp: Một là đáp quyết định, hai là phân biệt mà đáp, ba là theo lời hỏi mà đáp, bốn là yên lặng mà đáp.
Thế nào là quyết định đáp? Nếu có ai hỏi rằng nghiệp ác cảm quả lành hay quả chẳng lành? Thời nêu quyết định đáp rằng cảm quả chẳng lành. Hỏi thiện nghiệp cũng đáp như vậy. Nếu hỏi đức Như Lai có phải là bậc nhất thiết trí chăng? Thời nên quyết định đáp rằng là bậc nhất thiết trí. Nếu hỏi Phật pháp là thanh tịnh chăng? Thời nên quyết định đáp rằng là thanh tịnh. Nếu hỏi đệ tử của Phật có ăn ở đúng như pháp chăng ? Thời nên quyết định đáp rằng có đúng như pháp mà ở. Đây gọi là quyết định đáp.
Thế nào là phân biệt mà đáp? Như đức Phật giảng nói bốn chân đế. Thế nào là bốn? Là khổ tập diệt đạo. Sao gọi rằng khổ đế? Vì có tám điều khổ nên gọi là khổ đế. Thế nào là tập đế? Vì là nhân của ngũ ấm nên gọi là tập đế. Thế nào là diệt đế? Vì đã dứt hẳn tham sân si nên gọi là diệt đế. Thế nào là đạo đế? Ba mươi bảy pháp trợ đạo gọi đó là đạo đế. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.






