Chương Mười chín: Các Cấp độ của Con Đường
Thứ sáu, 08/07/2016, 21:57
Chương Mười chín
Các Cấp độ của Con Đường
Năm giai đoạn đó của con đường có hiện hữu như các cấp độ tâm linh không? Có: Có tất cả mười ba cấp độ: cấp độ của người sơ học, cấp độ thực hành do nguyện ước, mười cấp độ (thập địa) Bồ Tát và cấp độ Phật quả.
Theo Ngọn Đèn Soi sáng Con Đường Giác ngộ: “…ta sẽ đạt được Cực Hỷ và v.v…” Cực Hỷ là tên của cấp độ Bồ Tát (1) thứ nhất. Những từ “và v.v..” dùng cho hai cấp độ ở dưới Cực Hỷ và mười cấp độ trên nó.
1. CẤP ĐỘ CỦA NGƯỜI SƠ HỌC
Cấp độ này dùng cho thời kỳ khi ta ở trong Giai đoạn Tích tập. Được gọi như thế là bởi đó là những gì đưa sự non nớt của ta đến chỗ thuần thục.
2. CẤP ĐỘ THỰC HÀNH DO NGUYỆN ƯỚC (2)
Cấp độ này tương ứng với thời kỳ khi ta ở trong Giai đoạn Kết hợp. Được gọi như thế là bởi hoạt động của cấp độ này chỉ khát khao đạt được ý nghĩa của tánh Không.
Trong giai đoạn này những điều sau đây bị tiêu diệt khiến không xuất hiện (3):
* Các yếu tố, chẳng hạn như sự tham lam, là những gì không thích hợp với ba la mật,
* Các ô nhiễm sẽ bị tiệt trừ nhờ Giai đoạn Nội quán và
* Những cơ cấu khái niệm chủ quan khác nhau ngăn che sự tỉnh giác chân thực.
3. MƯỜI CẤP ĐỘ (MƯỜI QUẢ VỊ, THẬP ĐỊA) BỒ TÁT
Đây là các cấp độ từ “Cực Hỷ” cho tới “Pháp Vân”. Kinh Thập Địa nói:
“Con cái tốt lành của ta! Đây là mười cấp độ của Bồ Tát: cấp độ Bồ Tát ‘Cực Hỷ’…”
Cực Hỷ - cấp độ (địa, quả vị) thứ nhất trong mười địa - tương ứng với Giai đoạn Nội quán, trong đó tánh Không được chứng ngộ một cách chân thực. Địa thứ hai cho tới địa thứ mười thuộc giai đoạn trau dồi, trong đó ta trau dồi sự quán chiếu chân tánh được chứng ngộ trong cấp độ thứ nhất. Mười địa Bồ Tát này nên được hiểu theo cách tổng quát và cụ thể.
3a. Những vấn đề tổng quát liên quan đến Mười địa Bồ tát
Có ba vấn đề: Bản tánh của chúng, định nghĩa của Bhûmi (từ Phạn ngữ có nghĩa là “cấp độ” [quả vị, địa]) và lý do của việc phân chia thành mười cấp độ.
3.a1. Bản tánh của các Địa
Các địa bao gồm sự tương tục của việc tu tập – trong trí tuệ (prajñâ) trực tiếp chứng ngộ sự vắng mặt của ngã trong các hiện tượng, và trong thiền định sâu xa đồng hành và thúc đẩy trí tuệ này.
3.a2. Từ nguyên
Các địa được gọi là “nền tảng” (bhûmi (4)- địa) là bởi chúng dùng làm nền tảng cho mọi phẩm tính được kết hợp với cấp độ đặc biệt đó và trạng thái mà nó tượng trưng. Ngoài ra, mỗi địa là nền tảng làm sinh khởi địa kế tiếp. Các ví dụ sau đây chỉ rõ sự thích đáng của thuật ngữ này: tất cả những phẩm tính của trí tuệ nguyên sơ đều hiện diện và được sử dụng trong các địa, vì thế các địa giống như những bãi (5) nuôi bò. Ngoài ra, các địa giống như những địa điểm nơi những con ngựa được tập luyện, bởi với trí tuệ nguyên sơ ta vượt qua các địa đó. Cuối cùng các địa như những cánh đồng, bởi chúng là nền tảng trên đó phát triển mọi phẩm tính được kết hợp với trí tuệ nguyên sơ (jñâna).
3.a3. Lý do của việc Phân chia thành Mười địa
Chúng được chia thành mười địa do bởi những tính chất riêng biệt của sự tinh thông.(6)
3b. Những vấn đề cụ thể về mỗi địa Bồ tát
Các vấn đề này được trình bày qua chín đặc điểm của mỗi địa: tên, từ nguyên, sự tinh thông, thực hành, sự thuần tịnh, chứng ngộ, hoàn toàn tiệt trừ, nơi sinh và khả năng.
Bồ Tát Địa Thứ nhất (Sơ Địa)
TÊN ĐẶC BIỆT: “Cực Hỷ” (Hoan hỷ Địa)
TỪ NGUYÊN ĐẶC BIỆT Những bậc đã đạt được địa này cảm thấy một niềm vui mênh mông, bởi sự giác ngộ đã gần kề và việc làm lợi lạc chúng sinh đã thực sự được thành tựu, vì thế tên của địa này là “Cực Hỉ” (Hoan hỷ Địa). Trong Đại Thừa Trang nghiêm Kinh Luận có nói:
“Nhờ nhìn thấy giác ngộ gần kề và điều tốt lành của chúng sinh được thành tựu, một sự hỉ lạc siêu việt nhất sẽ sinh khởi. Vì lý do này mà nó được gọi là “Cực Hỷ”.
TINH THÔNG ĐẶC BIỆT Quả vị này được thành tựu nhờ tinh thông mười phẩm tính, chẳng hạn như không bao giờ có ý định lừa dối cho dù ta dấn mình vào lãnh vực hành động hay tư tưởng nào. Vì thế Trang nghiêm Chứng Đạo nói:
“Nhờ mười phương diện tu tập được tinh thông, địa thứ nhất sẽ được thành tựu.”
THỰC HÀNH ĐẶC BIỆT Mặc dù các Bồ Tát ở địa này thực hành tất cả mười ba la mật (7), các Ngài đặc biệt chú trọng thực hành bố thí ba la mật, bởi các Ngài mong muốn mang lại sự hài lòng cho tất cả chúng sinh. Vì thế Kinh Thập Địa nói:
“Từ lúc bắt đầu của địa thứ nhất, trong mười ba la mật, bố thí ba la mật được đặc biệt chú trọng, nhưng điều đó không có nghĩa là các ba la mật khác không được thực hành.”
THUẦN TỊNH ĐẶC BIỆT Như có nói trong Kinh Thập Địa:
“Ở địa thứ nhất, Cực Hỷ, có rất nhiều thị kiến vô cùng rộng lớn; nhờ năng lực của những sự cầu nguyện nên nhiều vị Phật sẽ được nhìn thấy, nhiều trăm vị Phật, nhiều ngàn vị Phật v.v.. nhiều trăm triệu vị Phật sẽ hiển lộ. Khi nhìn thấy các Ngài, ta cúng dường với một ý hướng vĩ đại và cao quý và biểu lộ sự vô cùng tôn kính v.v.. ta cũng cúng dường Tăng đoàn của các Ngài. Ta hồi hướng tất cả những cội gốc đức hạnh này cho sự giác ngộ vô song. Ta thọ nhận giáo lý từ các vị Phật này, nhập tâm và nhớ lại các giáo lý đó. Các giáo lý này được thực hành một cách nhiệt tâm và chúng sinh được đưa đến chỗ thuần thục nhờ bốn cách thu hút.”
Trong một cách thức như thế, và trong nhiều kiếp, các Bồ Tát cúng dường chư Phật, Giáo Pháp và Tăng đoàn và được các Ngài chăm sóc. Các Bồ Tát đưa chúng sinh đến sự thuần thục tâm linh. Vì thế, bởi ba nguyên nhân này, mọi cội gốc đức hạnh của các Ngài được vun trồng hết sức vĩ đại và thanh tịnh.
“Chẳng hạn như, mức độ tinh luyện và thuần tịnh của vàng có phẩm chất tốt, và khả năng thích ứng của nó đối với mọi cách sử dụng theo ý muốn, sẽ tùy thuộc vào số lượng công việc mà người thợ kim hoàn thực hiện trong việc làm vàng nóng chảy. Tương tự như vậy, các cội gốc đức hạnh của các vị Bồ Tát ở địa thứ nhất thì hoàn toàn được tinh luyện, hoàn toàn thanh tịnh và thích hợp với mọi cách sử dụng.”
CHỨNG NGỘ ĐẶC BIỆT Nói chung, các Bồ Tát trong mười địa có cùng một chứng ngộ. Các khác biệt xảy ra trong giai đoạn giữa-thiền định và chính phương diện này sẽ được coi là có liên quan đến mỗi địa. Ở địa thứ nhất này, Dharmadhâtu (pháp giới) được nhận ra là hiện diện khắp mọi nơi và điều này mang lại sự chứng ngộ trọn vẹn về sự đồng nhất của bản thân ta và chúng sinh. Vì thế Madhyântavibhâga (Nhận thức của Trung Đạo và các Cực đoan) nói đến “sự hiện diện khắp mọi nơi”.
TIỆT TRỪ ĐẶC BIỆT ĐƯỢC HOÀN TẤT Trong phạm vi của những che chướng ô nhiễm (phiền
não chướng), tất cả 82 phiền não được chế phục bằng nội quán đã bị tiệt trừ. Về ba loại (8) che chướng thuộc về nhận thức (sở tri chướng), đó là những che chướng có thể so sánh với một lớp da xù xì ở bên ngoài đã bị tiệt trừ. Ta cũng không có năm loại sợ hãi hay lo lắng. Những điều này
được mô tả trong Kinh Thập Địa:
“Năm nỗi sợ hiện diện cho đến khi ta đạt được Cực Hỷ địa là gì? Đó là sợ không kiếm sống được, sợ không có thanh danh, sợ chết, sợ tái sinh trong các cõi thấp và sợ bị vướng kẹt giữa những người thế tục. Ở quả vị này tất cả những nỗi sợ đó hoàn toàn bị tiêu diệt.”
NƠI SINH ĐẶC BIỆT Các Bồ tát ở quả vị này hầu như sinh làm các Chuyển luân vương (Cakravartin) trong cõi Diêm phù đề (9), ở đó các Ngài giải trừ ô nhiễm tham lam của chúng sinh. Vòng Hoa Quý báu của các Hệ thống Triết học Phật giáo nói rằng:
“Là kết quả hoàn toàn phát triển (10) của điều này, các Ngài trở thành một vị cai quản vĩ đại cõi Diêm phù đề.”
Mặc dù đây là tính chất đặc biệt của việc sinh ra được đề cập, nhờ ý hướng thuần tịnh làm lợi lạc chúng sinh, các Ngài có thể tự hiển lộ ở mọi nơi, bằng bất kỳ cách nào cần thiết để dạy dỗ chúng sinh, cũng như giảng dạy bằng các câu chuyện Jâtaka (11).
KHẢ NĂNG ĐẶC BIỆT “Bởi nguyện lực, các Bồ Tát ở Cực Hỷ địa vô cùng tinh tấn. Trong điều kiện tốt nhất, chỉ trong chốc lát, một khoảnh khắc ngắn ngủi, một chút thời gian, các Ngài có thể:
1. Đạt được một trăm thiền định sâu xa và kinh nghiệm kết quả vững chắc.
2. Nhìn thấy một trăm vị Phật,
3. Nhận thức đúng đắn nhất về những gia hộ (12) của các vị Phật đó,
4. Lay động hệ thống một trăm thế giới (13),
5. Viếng thăm một trăm cõi Phật,
6. Soi sáng một trăm hệ thống thế giới,
7. Đưa một trăm chúng sinh đến chỗ hoàn toàn thuần thục,
8. Sống một trăm kiếp,
9. Hoàn toàn thấu suốt một trăm kiếp trước và một trăm kiếp sau,
10. Khai mở một trăm cánh cổng Pháp,
11. Hiển lộ một trăm hiện thân ở khắp nơi và
12. Hiển lộ mỗi một trong những thân vật lý này được vây quanh bởi một trăm Bồ Tát khác.”
Bồ Tát Địa Thứ Hai
TÊN ĐẶC BIỆT “Bất nhiễm” (Ly Cấu Địa)
TỪ NGUYÊN ĐẶC BIỆT Quả vị này được gọi là “Bất nhiễm” bởi nó không bị ô uế bởi những vi phạm giới hạnh.
“Không bị ô uế bởi việc vi phạm công hạnh hoàn hảo, nó được gọi là ‘trạng thái Bất nhiễm’.” (14)






