Chương Mười bảy: Trí tuệ Ba la mật
Chủ nhật, 19/06/2016, 17:54
Chương Mười bảy
Trí tuệ Ba la mật
(prajñâpâramitâ)
Trí tuệ ba la mật (prajñâ) được tóm tắt làm bảy phần: những quán chiếu về lỗi lầm của sự thiếu trí tuệ và những phẩm tính của việc thực hành nó; tính chất thiết yếu của trí tuệ; các phương diện khác nhau của trí tuệ; đặc điểm thiết yếu của mỗi phương diện; điều được thấu hiểu; sự cần thiết của việc trau dồi trí tuệ và kết quả của trí tuệ.
1. QUÁN CHIẾU VỀ LỖI LẦM CỦA SỰ THIẾU TRÍ TUỆ VÀ NHỮNG PHẨM TÍNH CỦA VIỆC THỰC HÀNH NÓ
Nếu một Bồ Tát thường xuyên an trụ trong các ba la mật từ bố thí cho đến thiền định nhưng thiếu trí tuệ ba la mật, người ấy sẽ chẳng bao giờ đạt được trạng thái toàn trí. Vì sao? Năm ba la mật đầu tiên giống như một nhóm người mù không có người hướng dẫn và vì thế không thể đi đến kinh thành mà họ muốn thăm viếng. Vì thế Kinh Bát nhã Ba la mật Cô đọng trong các bài kệ nói:
“Làm thế nào cả một tỉ người mù đến được kinh thành mà không có người hướng dẫn và không biết đường đi? Không có trí tuệ chỉ cho họ con đường, năm ba la mật không mắt sẽ không có người hướng dẫn và không thể dẫn tới giác ngộ.”
Trái lại, khi họ có trí tuệ, mọi phương diện tốt lành của đức hạnh Bồ Tát – bố thí v.v.. được chuyển hóa thành con đường dẫn đến Phật quả và họ sẽ đạt được trạng thái toàn trí, giống như một nhóm người mù được người dẫn dắt đưa tới kinh thành. Vì thế Nhập Trung Đạo nói:
“Giống như một nhóm người mù đến được nơi mà họ chọn nhờ sự dẫn dắt của một người sáng mắt, trí tuệ dẫn dắt các phẩm tính không mắt đến chiến thắng.”
Kinh Bát nhã Ba la mật Cô đọng trong các bài kệ nói:
“Nhờ hoàn toàn thấu suốt bản tánh của các hiện tượng bằng trí tuệ, ta sẽ hoàn toàn siêu xuất ba cõi.”
Trong trường hợp này, ta có thể cho rằng chỉ một mình trí tuệ là đủ và những phương tiện thiện xảo – bố thí v.v.. thì không cần thiết. Không phải như thế. Ngọn Đèn Soi sáng Con Đường Giác ngộ nói:
“Ta được dạy rằng ‘trí tuệ mà thiếu các phương tiện thiện xảo hay phương tiện thiện xảo mà thiếu trí tuệ là sự trói buộc.’ Vì thế đừng từ bỏ sự kết hợp này.”
Sự trói buộc nào xảy ra nếu ta thực hành trí tuệ hay phương tiện thiện xảo một cách riêng biệt? Một Bồ Tát sử dụng trí tuệ mà không có phương tiện thiện xảo sẽ rơi vào niết bàn phiến diện được các Thanh Văn coi là an bình và trở nên hoàn toàn bị trói buộc và không bao giờ đạt được niết bàn vô-trụ. Theo lý thuyết của ba khả năng (yâna - thừa), ta sẽ bị trói buộc vào điều kiện đó thật lâu dài. Theo lý thuyết của nhất thừa, ta sẽ bị trói buộc vào trạng thái đó trong 80.000 kiếp. Trái lại, nếu một Bồ Tát sử dụng các phương tiện mà không có trí tuệ, vị ấy sẽ không bao giờ siêu vượt trạng thái non nớt và vẫn bị trói buộc trong sinh tử. Trong Kinh Aksayamati Vấn thỉnh có nói:
“Có trí tuệ mà thiếu phương tiện, ta bị cột trói vào niết bàn. Có phương tiện mà thiếu trí tuệ, ta bị trói buộc vào sinh tử. Vì thế cần có sự kết hợp của cả hai.”
Trong Vimalakirtinideśasûtra (Kinh Vimalakirti) cũng nói:
“Trói buộc của các Bồ Tát là gì và giải thoát của các vị ấy là gì? Trói buộc của các Bồ Tát là trí tuệ không được phương tiện thiện xảo hỗ trợ trong khi giải thoát của các ngài là trí tuệ được phương thiện thiện xảo hỗ trợ.”
Vì thế, thực hành phương tiện thiện xảo hay trí tuệ một cách riêng rẽ là đánh bạc với quỷ ma (mâra). Sâgaranânâ garâjapariprcchâsûtra (Kinh Long Vương Sagara Vấn thỉnh) nói:
“Quỷ ma có hai hoạt động: phương tiện không trí tuệ và trí tuệ không phương tiện. Ta nên từ bỏ những điều này bằng cách hiểu rõ chúng là hoạt động của quỷ ma.”
Ta có thể minh họa như sau: giống như một người cần có đôi mắt để xem xét con đường và đôi chân để đi tới một thị trấn do họ chọn, những người đi tới cung thành Niết bàn vô-trụ cần có sự kết hợp đầy đủ của đôi mắt trí tuệ và đôi chân phương tiện. Gayaśirsasûtra (Kinh Núi Gaya) nói:
“Nói tóm lại, Đại thừa có hai phần: phương tiện và trí tuệ.”
Trí tuệ sẽ không tự nó xuất hiện. Chẳng hạn như một số lượng gỗ nhỏ có thể được nhóm lên nhưng nó sẽ chẳng bao giờ trở thành một ngọn lửa lâu dài, mạnh mẽ, tuy nhiên nếu một ngọn lửa được đốt bằng cách chất đống một số lượng lớn cành khô thì ngọn lửa sẽ trở thành khổng lồ, cháy lâu và không bị dập tắt. Tương tự như vậy, nếu chỉ có ít ỏi thiện hạnh được củng cố, trí tuệ vĩ đại sẽ không phát khởi nhưng khi vô số thiện hạnh bố thí, trì giới v.v.. được củng cố, trí tuệ vĩ đại sẽ xuất hiện và trí tuệ này sẽ thiêu rụi mọi phiền não ngăn che. Vì thế để có được trí tuệ, rất cần phải dùng đến sự bố thí v.v.. Bồ Tát Hạnh nói:
“Đấng Chiến Thắng đã dạy rằng tất cả những yếu tố (1) này là để dành cho mục đích trí tuệ.”
2. TÍNH CHẤT THIẾT YẾU CỦA TRÍ TUỆ
Tính chất thiết yếu của trí tuệ là một nhận thức sáng suốt, đúng đắn về các hiện tượng. Vì thế A tỳ đạt ma Tập luận nói:
“Trí tuệ (prajñâ) là gì? Đó là là một nhận thức sáng suốt, đúng đắn về các hiện tượng.”
3. CÁC PHƯƠNG TIỆN KHÁC NHAU CỦA TRÍ TUỆ
Luận giảng cho Đại Thừa Trang nghiêm Kinh Luận đưa ra ba loại trí tuệ: trí tuệ thế gian, trí tuệ siêu nhiên thấp và trí tuệ siêu nhiên tuyệt hảo.
4. ĐẶC ĐIỂM THIẾT YẾU CỦA MỖI PHƯƠNG DIỆN
4a. Trí tuệ thế gian:
Đây là trí tuệ phát khởi từ bốn lãnh vực của sự hiểu biết: y học, luận lý, ngôn ngữ học và nghệ thuật.
4b. Trí tuệ siêu nhiên thấp:
Đây là trí tuệ phát khởi nhờ việc nghiên cứu, suy niệm và thiền định của Thanh Văn và Phật Độc Giác. Đó là việc nhận ra các uẩn tồn tại triền miên của bản ngã thì bất tịnh, ngập đầy đau khổ, vô thường và không có thực thể.
4c. Trí tuệ siêu nhiên tuyệt hảo:
Đây là trí tuệ phát khởi từ việc nghiên cứu, suy niệm và thiền định Đại thừa. Đó là sự tỉnh giác rằng tự bản chất, mọi hiện tượng thì trống không, vô sanh, không có nền tảng và không có cội gốc. Vì thế trong Kinh Bát nhã ba la mật trong Bảy trăm bài kệ có nói:
“Thấu hiểu rằng mọi hiện tượng không có sự hiện hữu như cái gì đó được sinh ra (2); đó là trí tuệ ba la mật.”
Kinh Bát nhã Ba la mật Cô đọng trong các bài kệ cũng nói:
“Người hoàn toàn thấu suốt mọi hiện tượng không có bản tánh của riêng nó là người thực hành trí tuệ ba la mật siêu việt.”
Ngọn Đèn Soi sáng Con Đường Giác ngộ cũng nói:
“Cái được gọi là ‘trí tuệ (prajñâ)’ được giảng nghĩa thấu đáo là đến từ sự nhận thức về tánh Không của hiện hữu bẩm sinh, là sự nhận thức rằng các uẩn, các yếu tố và các cánh cổng tri giác thì vô sanh.”
5. ĐIỀU ĐƯỢC THẤU HIỂU
Trong ba loại trí tuệ được đề cập ở trên, trí tuệ cần được hiểu rõ là loại thứ ba – trí tuệ tâm linh tuyệt hảo. Nó sẽ được trình bày qua sáu chủ đề: bác bỏ niềm tin nơi thực tại có thực, bác bỏ niềm tin nơi tính chất không thực, sai lầm của việc tin vào sự không hiện hữu, sai lầm của cả hai niềm tin, con đường giải thoát và bản tánh của sự giải thoát – niết bàn.
5a. Bác bỏ niềm tin nơi thực tại có thực
Trong Ngọn Đèn Soi sáng Con Đường Giác ngộ, Atisa thực hiện một sự phân tích về vấn đề này trong số các lập luận chính yếu của ngài, ngài nói: “Thật không hợp lý khi điều gì đã hiện hữu mà còn xuất hiện (3); cũng không hợp lý đối với những sự không hiện hữu, giống như hoa không trung (4)…” Trong các giáo lý về con đường tuần tự ngài nói rằng mọi thực tại có thực, hay những niềm tin nơi sự thực có, được bao gồm trong hai loại “ngã” và cả hai loại ngã đó trống không tự bản chất.
5.a1. Hai loại ngã
Như thế hai loại ngã hay tâm là gì? Chúng được gọi là ngã của con người – ngã cá nhân (nhân ngã) và ngã của các hiện tượng (pháp ngã).
“Ngã của con người” hay “tâm của con người” là gì?
Có nhiều cách nhìn về vấn đề này. Trong thực tế, nó ám chỉ một người thực sự là một sự tương tục không đứt đoạn của các uẩn tự-tái tạo được đi kèm bởi sự thông minh, một cái gì tinh quái và xảo trá, luôn luôn suy nghĩ và mưu tính, chuyển động và thay đổi. Về điều này Mdo.sil.bu nói:
“Thuật ngữ con người (cá nhân), được dùng cho một sư tương tục, trong thực tế là sự chuyển động và thay đổi liên tục.”
Một khi con người được tin là một thực thể thường hằng và duy nhất thì sẽ xuất hiện sự vướng mắc và bám chấp vào các ý niệm ta và ngã. Chính sự vướng mắc đó được gọi là ngã của con người hay tâm của con người. Do bởi ý niệm ngã mà các phiền não sẽ phát sinh. Bởi các phiền não, hành động (nghiệp) sẽ phát sinh. Bởi hành động (nghiệp) đau khổ sẽ phát sinh. Như thế, mọi đau khổ và xấu ác có sự mê lầm-bản ngã, hay tâm, như gốc rễ của chúng. Vì thế Pramânavartikâ (Luận giảng về Nhận thức Đúng đắn) nói:
“Khi ta hiện hữu, người sẽ được biết đến. Do cặp-ta-và-nguời (ngã-tha) xuất hiện bám chấp và thù ghét. Do sự tương tác duyên hợp của cặp ta-người này mọi họa hại sẽ xuất hiện.”
Ngã của hiện tượng là gì?
Các hiện tượng (dharma, pháp) có nghĩa là thế giới được nhận thức bên ngoài và tâm nhận thức bên trong. Vì sao hai phương diện này được gọi là các hiện tượng? Đó là bởi chúng sở hữu những tính chất cụ thể của chúng. Vì thế Mdo.sil.bu






