2. Bát Nhã Tâm Kinh Lược Giải

LƯỢC GIẢI

Nguyên đề mục kinh này có mười chữ:

“Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm kinh”; gọi tắt là: “Tâm kinh”

MA HA: Trung Hoa dịch âm chữ Phạn “Maha”, dịch nghĩa là “Đại” (lớn), Đa (nhiều) và “thắng” (hơn).

BÁT NHÃ: Trung Hoa dịch âm chữ Phạn “Prajnà”; vì không có chữ dịch cho cân xứng, nên chỉ dịch nguyên âm (Bát Nhã).

Bát Nhã có nhiều nghĩa sâu xa, nhưng tóm lại có sáu nghĩa:

1. Viễn ly: Xa lìa các vô minh phiền não vọng chấp

2. Minh: Sáng, không mờ tối

3. Trí: Thông suốt

4. Tuệ: Sáng tỏ

5. Trí tuệ: Sáng tỏ thông suốt

6. Thanh tịnh: Trong sạch không nhiễm ô.

Bát Nhã có nhiều nghĩa như vậy, nếu lấy một nghĩa thì không được đúng lắm, nên các dịch giả chỉ để nguyên âm chữ Phạn.

Tuy nhiên, trong sáu nghĩa trên đây, nếu đem so sánh và cân nhắc, thì có thể dùng tạm nghĩa “Trí tuệ”, vì nghĩa Trí tuệ có phần rõ ràng vá xác đáng hơn hết.

Nhưng, cần phải chọn lọc thật kỹ, bỏ các loại Trí tuệ sau đây, mới đúng với nghĩa của chữ “Bát Nhã”.

1. Trí tuệ thế gian: Trong thế gian, những người học rộng thấy xa, thông minh lanh lợi khôn khéo lịch duyệt, hay giỏi mọi phương diện, thiên hạ gọi là người “Trí tuệ”. Nhưng Trí tuệ đó là Trí tuệ của thể tục phàm phu, không phải là “Trí tuệ Bát Nhã”.

2. Trí tuệ ngoại đạo: Chúng ngoại đạo tu thiền định lâu ngày cũng có Trí tuệ (xem bài Thiền tông trong Bộ Bản đồ tu Phật ) biết được việc quá khứ hiện tại và vị lai, thần thông biến hoá vô cùng, nhiều pháp kỳ lạ. Nhưng Trí tuệ đó là tà Trí tuệ, không phải “Trí tuệ Bát Nhã”.

3. Trí tuệ Nhị thừa: Hàng Thanh văn và Duyên giác do tu pháp Tứ đế và Thập nhị nhân duyên mà đặng đạo quả. Các vị này đã khỏi sinh tử luân hồi, thần thông tự tại và có Trí tuệ biết được việc quá khứ hiện tại và vị lai.

Nhưng Trí tuệ đó thuộc về Trí tuệ Tiểu thừa, chỉ thấy về “ngã không chân như” (thiên không), chứ chưa thấy được “pháp không chân như”, nên cũng không phải “Trí tuệ Bát Nhã”.

Trừ ba loại Trí tuệ trên, duy có Trí tuệ của Phật hay của Đại thừa Bồ Tát, mới phải là “Trí tuệ Bát Nhã”.

Công dụng của Trí tuệ Bát Nhã, như mặt trời chiếu phá các mây mù vô minh vọng chấp (ngã, pháp). Bởi thế nên Trí tuệ Bát Nhã chiếu soi các pháp, thì pháp nào cũng đều bỏ hình giả dối, mà hoàn lại tướng chân thật. Tướng chân thật của các pháp đã hiện, tức là chân như hay chân lý của vũ trụ hiện ra vậy.

Trí tuệ Bát Nhã sẵn có trong mổi chúng sinh từ vô thủy đến nay, không phải do tu mới có, hay nhờ các duyên bên ngoài luyện tập mà thành. Dù ở địa vị phàm phu, nó cũng không giảm, dù chứng quả thánh, nó cũng không tăng. Nó không bị các vô minh phiền não phá hoại, trái lại còn phá tiêu tất cả vô minh phiền não từ vô thủy đến nay. Nó phá một cách dễ dàng và rốt ráo, như gió thổi mây bay, như mặt trời chiếu sương mù tan. Bởi thế nên gọi là “Bát Nhã Ba La Mật Đa” (Trí tuệ rốt ráo).

Trí tuệ Bát Nhã có công năng như chiếc thuyền, đưa chúng sinh từ bên này bờ mê muội triền phược của phàm phu, đến bên kia bờ giác ngộ giải thoát của chư Phật, nên Cổ nhân cũng gọi là “thuyền Bát Nhã”.

Muốn giản biệt Trí tuệ Bát Nhã, để khỏi lầm lộn với Trí tuệ của phàm phu, ngoại đạo và Tiểu thừa, chúng tôi dịch nghĩa chữ “Bát Nhã” như sau:

1. Trí tuệ Phật (Trí tuệ của Phật tính hay chân tâm)

2. Trí tuệ Bát Nhã (dùng cả chữ Phạn và chữ Hán)

3. Trí tuệ rốt ráo (Bát Nhã Ba la mật)

Bát Nhã có ba loại:

a. Văn tự Bát Nhã: tức là “học Bát Nhã”. Hành giả nhờ học văn tự nghĩa lý kinh Bát Nhã mới ngộ được Lý tính Bát Nhã của mình.

b. Quán chiếu Bát Nhã: Tức là “tu Bát Nhã”. Sau khi đã ngộ được Lý tính Bát Nhã, hành giả phải tu tập; nghĩa là quán sát chiếu soi các pháp đều “không”

c. Thật tướng Bát Nhã: Tức là “Chứng Bát Nhã”. Sau khi tu tập, đến lúc công viên quả mãn rồi, hành giả chứng được tướng chân thật của Bát Nhã.

Tu chứng Bát Nhã có ba giai đoạn:

1. Gia hạnh Bát Nhã: Tăng gia công hạnh tu Bát Nhã. Nghĩa là sau khi hạ thủ công phu tu tập, hành giả phải tăng gia công hạnh, mới đặng Trí tuệ Bát Nhã.

2. Căn bản Bát Nhã: Tức là thể tính Bát Nhã, tuy sẵn có trong mỗi chúng sinh, nhưng phải nhờ có tu hành mới được hiển lộ.

3. Hậu đắc Bát Nhã: Tức là diệu dụng Bát Nhã, do hành giả sau khi chứng đặng “căn bản Bát Nhã” rồi mới được diệu dụng này.

***

BA LA MẬT ĐA: Trung Hoa dịch âm chữ Phạn “Paramita”, có hai nghĩa:

1. Đáo bỉ ngạn: đến bờ bên kia. Trí tuệ Bát Nhã có công năng đưa chúng sinh từ bờ mê muội triền phược của phàm phu bên này, qua đến bờ giác ngộ giải thoát của chư Phật bên kia, nên gọi là “Bát Nhã Ba La Mật Đa”

2. Cứu cánh viên mãn: hoàn toàn rốt ráo. Theo tục ngữ Ấn Độ, phàm làm việc gì khi đã hoàn toàn viên mãn, thì gọi là “Ba La Mật Đa”. Trí tuệ Bát Nhã là loại Trí tuệ đã rốt ráo viên mãn, nên gọi là “Bát Nhã Ba La Mật Đa”.

TÂM: Chữ “Tâm” có nhiều nghĩa:

1. Tâm: Quả tim, như “tâm can tỳ phế thận”;

2. Tâm: Chứa nhóm và sinh khởi, như “tập khởi tâm”;

3. Tâm: Chứa nhóm, như “Tập tích tâm”;

4. Tâm: Sinh diệt không gián đoạn, như “đẳng vô gián tâm”;

5. Tâm: Nhớ nghĩ lo lường, như “tư lương tâm”;

6. Tâm: Rõ ràng phân biệt, như “minh liễu phân biệt tâm”;

7. Vọng Tâm: Tâm hư vọng sinh diệt;

8. Chân Tâm: Tâm chân thật, như “bản thể chân tâm”;

9. Tâm: Toát yếu hay tinh yếu, như chữ “trọng tâm”.

Tóm lại, chữ “tâm” tuỳ ở trong đề mục kinh này, thì nên dùng nghĩa “tinh yếu”, “toát yếu” hay “trong tâm” mới là chính xác. Vì Phật nói kinh Đại Bát Nhã đến 600 quyển, trải qua thời gian 22 năm mới rồi (nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm); kinh này (chỉ có 260 chữ) là trong tâm hoặc toát yếu hay tinh yếu của kinh Đại Bát Nhã, nên gọi là “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm kinh”.

***

KINH: kinh điển hay giáo lý, do Phật hoặc Bồ Tát nói ra. Chữ “kinh” có nhiều nghĩa, nhưng tóm lại cóp ba nghĩa như sau:

1. Thường: Không thay đổi. Chân lý của Phật không thay đổi, dù Phật quá khứ, hiện tại, vị lai cũng đều nói chân lý như vậy.

2. Đường canh: Đường chỉ xuôi trong tấm vải. Nhờ sợi chỉ xuôi, xâu kết các sợi chỉ ngang, để làm thành một tấm vải. Còn kinh là sự tổng hợp ghi chép các lời nói của Phật hoặc Thánh hiền.

3. Hợp (khế): Kinh Phật hợp với “chân lý của vũ trụ” và hợp với “căn cơ trình độ của chúng sinh”. Cũng một bộ kinh, mà tuỳ theo trình độ của mỗi người jẻ hiểu cao, người hiểu thấp. Tuy sự hiểu ngộ cao thấp không đồng, nhưng y theo kinh tu hành, đều được khỏi khổ sinh tử luân hồi, không sót một người nào. Kinh Phật có những đặc điểm như vậy, nên gọi là “khế kinh”.

Tóm lại, “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm kinh” là “Kinh toát yếu kinh Đại Bát Nhã”.

Nói về danh, Tướng, Thể, Dụng của kinh này:

Danh: tên kinh này dùng pháp “Bát Nhã” làm tên

Tướng: Kinh này lấy “Đại thừa” làm giáo tướng.

Thể: Kinh này lấy “Thật tướng” làm thể

Dụng: Kinh này lấy “độ thoát khổ ách” làm dụng

Tôn chỉ: Kinh này lấy “quán chiếu” làm tôn chỉ

***

Tên của dịch giả: Ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang.

TAM TẠNG PHÁP SƯ: Tam tạng là ba kho tàng; vì có công năng trùm chứa văn nghĩa của Phật pháp, nên gọi là “Tạng”.

1. Kinh tạng chép những lời Phật dạy hay những lời của các vị Bồ Tát nói ra.

2. Luật tạng chép những giới và luật của 7 chúng (Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Sa Di, Sa Di Ni, Thức xoa và Ưu bà tắc, Ưu bà di)

3. Luận tạng chép những nghị luận chính tà, phân biệt chân vọng của các vị Bồ Tát và chư Tổ.

Thầy giảng Kinh thì gọi là “Pháp sư”

Thầy giảng Luật thì gọi là “Luật sư”

Thầy giảng Luận thì gọi là “Luận sư”

Ngài Huyền trang thông suốt cả ba tạng và giảng dạy cả Kinh, Luật, Luận nên gọi Ngài là “Tam Tạng Pháp sư” (vị Pháp sư thông suốt ba tạng).

HUYỀN TRANG: Ngài họ Trần tên Vĩ ở đất Yên sư, tỉnh Lạc Dương. Ngài rất thông minh, xuất gia khi 13 tuổi, học đủ kinh điển. Đến năm Trinh Quán thứ ba, Ngài phát tâm qua Ấn Độ học Phật pháp đén 15 năm, rất thông về “pháp tướng Duy thức học”. Ngài học được 657 bộ kinh. Đến năm Trinh Quán thứ 19, Ngài về Trung Hoa. Vua Đường Thái Tôn rất mừng, thỉnh Ngài ở lại chùa Hoàng Phước dịch kinh. Ngài dịch được 75 bộ, cộng là 1335 quyển. Ngài hưởng thọ 75 tuổi. Vua Cao Tôn dựng tháp Ngài Thao Kiều Ấn Độ tại chủa Từ Ân, công đức của Ngài thật là vô tận. (xem bộ Huyền Trang do Võ đình Cường soạn, Hương Đạo xuất bản)

Kinh này có năm nhà dịch từ chữ Phạn ra chữ Trung Hoa, nhưng bản dịch của Ngài Huyền Trang truyền bá được thịnh hành hơn hết.

***

PHẦN DUYÊN KHỞI

CHÁNH VĂN

Ngài Quán Tự tại Bồ Tát, sau khi đi sâu vào Trí tuệ Bát Nhã rồi, thấy năm uẩn đều “không” (Bát Nhã), nên không còn các khổ.

Lược giải

Đoạn thứ nhất, nói: Bồ Tát dùng Trí tuệ Bát Nhã, thấy các pháp đều không (Bát Nhã) nên không còn các khổ.

Tất cả chúng sinh vì mê bản thể chân tâm thanh tịnh của mình, nên vọng hiện ra có thế giới và chúng sinh.cũng như ngưới mê ngủ chiêm bao, nên thấy có các cảnh vật.

Chúng sinh chấp các cảnh vật đó là thật, nên khởi ra tham, sân, si tạo đủ các nghiệp, rồi sinh tử luân hồi chịu đủ kiểu khổ sở. Cũng như người đương chiêm bao, vì chấp cảnh vật trrong chiêm bao là thật, nên sinh ra vui buồn đủ chuyện.

Bồ Tát dùng Trí tuệ Bát Nhã, thấy rõ các pháp (thế giới, chúng sinh) đều không, do vô minh vọng tưởng hiện ra, nên Bồ Tát không còn bị các khổ bởi vô minh vọng tưởng. Cũng như người đã thức giấc chiêm bao, thấy rõ cá cảnh vật trong chiêm bao đều không có, nên không cò bị khổ vui bởi cảnh chiêm bao.

Tóm lại, chúng sinh vì chấp năm uẩn thật có, nên mới chịu các khổ sở. Bồ Tát dùng Trí tuệ Bát Nhã thấy năm uẩn đều không, nên không còn bị các khổ.

GIẢI DANH TỪ

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT: Ngài Huyền Trang Pháp sư dịch là “Quán Tự Tại Bồ Tát”; Cựu dịch: “Quán Thế Âm Bồ Tát”

Quán Tự Tại, có hai nghĩa: 1. Quán rõ các pháp đều do tâm biến hiện, nên chúng sinh được quả tự tại, 2. Quán biết căn cơ của chúng sinh, nên sự giáo hoá được tự tại.

BỔ TÁT: Trung Hoa dịch tắt chữ “Bồ Đề Tát Đoả”. “Bồ Đề” dịch là “Giác”; “Tát đoả” dịch là “Hữu tình”; nghĩa là chúng hữu tình đã được giác ngộ. Có ba nghĩa:

1. Phần tự lợi: Tức là “Hữu tình giác”, nghĩa là chúng hữu tình đã giác ngộ, nhưng chưa được hoàn toàn như Phật. Vì có vi tế sở tri ngu, nên giác mà còn hữu tình.

2. Phần lợi tha: Tức là “Giác hữu tình”; nghĩa là phần minh đã giác ngộ, rồi giác ngộ cho chúng sinh.

3. Phần tự lợi, tự tha: Tức là “Tự giac, giác tha”; nghĩa là trên cầu đạo Phật để giác ngộ cho mình, dưới giáo hoá chúng sinh.

Nghĩa thứ nhất, túc là “Trí”, nghĩa thứ hai tức là “Bi”, nghĩa thứ ba cả Bi và Trí. Bồ Tát “Bi, Trí” gồm đủ. “Lý, Sự” vô ngại, nên gọi là “Quán Tự Tại Bồ Tát”.

ĐI SÂU VÀO TRÍ TUỆ BÁT NHÃ: Tức là Bồ Tát đã thâm nhập Trí tuệ Bát Nhã.

NĂM UẨN ĐỀU KHÔNG: Hàng Nhị thừa phá cái chấp ngã; nhưng có chấp pháp; nghĩa là thấy không có “ngã”, nhưng còn năm uẩn. Hàng Đại thừa Bồ Tát, thì ngã pháp đều phá; nghĩa là ngã đã không mà năm uẩn cũng không.

Năm uẩn là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ngài Huyền Trang dịch là “ngũ uẩn”. Chữ “uẩn” là “chứa nhóm”; nghĩa là năm món này tích tụ chứa nhóm làm thân và làm tâm.

Cựu dịch là “ngũ ấm”. Chữ “Ấm” là che đậy; nghĩa là năm món này che đậy chân tâm thanh tịnh, như mây che mặt nhật.

Tóm lại, tất cả sự vật trong vũ trụ, không ngoài thế giới và chúng sinh. Thế giới chúng sinh không ngoài Sắc (vật chất) và Tâm (tinh thần).

Sắc tức là sắc uẩn: tâm tức là tâm uẩn: thọ, tưởng, hành, thức. Bởi thế nên nói “năm uẩn đều không”, tức là nói “thế giới và chúng sinh hay tất cả sự vật trong vũ trụ đều không”.

KHỒ: các khổ vô biên nhưng tóm lại có ba món khổ: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ; hay tám món khổ là: sinh khổ, lão khổ, bịnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ, cầu bất đắc khổ (xem Khổ đế trong quyển Tứ Diệu Đế, do Hương Đạo xuất bản).

***

PHẦN CHÁNH TÔNG

CHÁNH VĂN

Ngài gọi ông Xá Lợi Tử dạy rằng: “Này Xá Lợi Tử! Năm uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) chẳng khác với “không” (Bát Nhã), “không” chẳng khác với năm uẩn tức là “không” (Bát Nhã), “không” tức là năm uẩn.

Lược giải

Đại ý đoạn này nói: Năm uẩn tức là: “không” (Bát Nhã), “không” tức là năm uẩn.

Nói năm uẩn tức là nói tất cả các pháp. Tất cả các pháp có hai phần: Tính và Tướng. Tính của các pháp thì không có hình tướng. Kinh gọi là “không tướng” (thị chư pháp không tướng). Bởi “không tướng” nên không sai khác, không sinh diệt, không hư hoại v.v… cũng gọi là thật tướng, chân tướng, chân tính, chân không, chân như hay chân tâm v.v…

Tướng của các pháp thì có hình tướng, như năm uẩn hay các pháp sai khác, có sinh diệt, hư dối không thật, rốt cuộc hoàn không. Kinh chép: “Ngũ uẩn giai không”.

Thí dụ như vòng, kiềng, xoa, xuyến là “tướng” của vàng; băng, tuyết, mù sương, nước đá là “tướng” của nước, đều có sinh diệt, hư giả không thật, rốt cuộc đều trở về không. Còn “tính” của vàng hay “tính” của nước thì không có các tướng: dài, ngắn, vuông, tròn v.v… (dụ cho không tướng). Vì “không tướng” nên không sinh diệt hư hoại; dụ như thật tướng, chân tướng hay chân không v.v…(Đây chỉ là thí dụ cho dễ hiểu, chứ không phải “vàng” hay “nước” là thật tướng hay chân tướng v.v…).

Đoạn kinh này có hai tầng đạo lý, cạn và sâu khác nhau. Tầng đạo lý thứ nhất, dùng hai chữ “chẳng khác”:

Năm uẩn “chẳng khác” với không

Không “chẳng khác” với năm uẩn.

Nghĩa là đem “năm uẩn” với “chân không” để so sánh nhau: Lấy “năm uẩn” so sánh với “chân không” không khác; và lấy “chân không” để so sánh với “năm uẩn” cũng không khác. Tuy không khác, nhưng có người hiểu: vẫn còn một bên “năm uẩn” và một bên “chân không”. Cũng như nói “sóng và nước không khác”, nhưng vẫn còn chấp; sóng và nước hai thứ riêng biệt.

Đến tầng đạo lý thứ hai, có phần sâu hơn, lại dùng hai chữ “tức là”:

Năm uẩn “tức là” không

Không “tức là” năm uẩn.

Nghĩa là: “năm uẩn” tức là “chân không”, “chân không” tức là “năm uẩn”. Năm uẩn với chân không, không còn hai phần riêng biệt nữa. Cũng như nói: sóng tức là nước, nước tức là sóng, không có riêng khác.

Tầng đạo lý thứ nhất nói: Năm uẩn “chẳng khác” với Không, Không “chẳng khác” với Năm uẩn, tức là nói:

Tướng của các pháp “chẳng khác” với tính của các pháp. Tính của các pháp “chẳng khác” với Tướng của các pháp. Cũng như nói: Kẹo (tướng) “không khác” với đường (tính); Đường “không khác” với kẹo.

Tầng đạo lý thứ hai nói: Năm uẩn “tức là” Không. Không “tức là” Năm uẩn; tức là nói:

Tướng của các pháp “tức là” Tính của các pháp. Tính của các pháp “tức là” Tướng của các pháp. Cũng như nói: Kẹo (tướng) “tức là” Đường (tính); Đường “tức là” kẹo.

Muốn rõ thêm đoạn kinh này, chúng tôi xin thí dụ như sau: Như người mê ngủ chiêm bao (dụ chúng sinh mê muội) thấy các cảnh vật khổ vui v.v…Vì mê mộng nên họ chấp các cảnh vật ấy là thật, rồi cũng vui buồn cười khóc v.v…

Trái lại, người thức (dụ Bồ Tát tu Trí tuệ Bát Nhã) thấy các cảnh chiêm bao kia đều không (ngũ uẩn giai không) nên không bị cảnh chiêm bao làm cho họ khổ sở (độ nhất thế khổ ách).

Người thức kia (dụ Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát) biết rằng: Vì tâm chiêm bao hiện ra các cảnh chiêm bao, nên nói:

“Cảnh chiêm bao (sắc) “không khác” với tâm chiêm bao (không), Tâm chiêm bao “không khác” với cảnh chiêm bao; cảnh chiêm bao “tức là” Tâm chiêm bao, Tâm chiêm bao “tức là” cảnh chiêm bao.

Lên một tầng nữa, Phật dạy:

Chúng sinh vì mê bản thể chân tâm thanh tịnh của mình (chân không) nên vọng hiện ra thế giới và chúng sinh, tức là cảnh giới của chúng ta sống đây (trong kinh cũng gọi là cảnh đại mộng). Rồi chúng sinh vọng chấp cho là cảnh thật, nên cũng mừng giận khổ vui v.v…cũng như người chiêm bao (tiểu mộng) không khác, nên gọi là “mộng tưởng diên đảo).

Bồ Tát đã giác ngộ (như người thức tỉnh) dùng Trí tuệ Bát Nhã (như trí của người thức) thấy cảnh giới của chúng ta đang sống đây là cảnh đại mộng, đều do tâm hiện ra, nên Bồ Tát dạy: “các pháp đều không” (ngũ uẩn giai không), do tâm hiện ra, nên các pháp chẳng khác với tâm (không), tâm chẳng khác với các pháp; các pháp tức là tâm, tâm tức là các pháp”.

Tóm lại, đồng một bản thể chân tâm thanh tịnh không khác, nhưng chúng sinh vì vô minh vọng tưởng điên đảo, nên thấy có năm uẩn hay thế giới chúng sinh, rồi theo cảnh đại mộng này mà thọ khổ.

Trái lại, Bồ Tát đã giác ngộ (người đã thức giấc đại mộng) dùng Trí tuệ Bát Nhã thấy cảnh đại mộng này (5 uẩn hay các pháp) đều không, chỉ do tâm hiện ra, nên không còn bị các khổ của cảnh đại mộng nữa (độ nhất thế khổ ách).

Vì chúng sinh mê, từ “tính không” hiện ra “có sắc”, nên nói:”sắc, chẳng khác với không”, nên nói: “không, chẳng khác sắc”, hay không tức là “sắc”.

GIẢI DANH TỪ

XÁ LỢI TỬ: Có nhà dịch “Xá Lợi Phất” hay “Xá Lợi Phất Đa La”. Chữ “phất” đồng nghĩa với chữ “Tử” (con). Ông Xá Lợi Tử là bậc đại đệ tử của Phật, Trí tuệ thứ nhất.

Bà mẹ ông tên Xá Lợi, thông minh xuất chúng, biện luận nổi danh trong xứ, nhất là trong khi có mang ông.

Theo phong tục Ấn Độ, thường lấy tên mẹ đặt tên con, nên gọi ông là Xá Lợi Tử (hay Phất); nghĩa là con bà Xá Lợi.

Theo bản dịch của Ngài Thi Hộ chép: “Trong khi Đức Thế Tôn ở non Linh Thứu nhập định Thậm thâm quang minh, nói chính pháp Tam ma đề, thì ông Xá Lợi Phất bạch với Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát rằng: “Nếu có người muốn tu pháp môn thậm thâm Bát Nhã, thì phải tu như thế nào? Nhân đó ngài Quán Tự Tại gọi ông Xá Lợi Phất mà giảng nói kinh này”.

SẮC, tức là “sắc uẩn”: Các vật chất chứa nhóm lại thành ra những hình tướng, như thân thể và cảnh vật, gọi là “sắc uẩn”.

Sắc uẩn gồm 11 món: Năm căn và sáu trần.

Năm căn là:

1. Nhãn căn: Con mắt

2. Nhỉ căn: Lỗ tai

3. Tỵ căn: Lỗ mũi

4. Thiệt căn: Cái lưỡi

5. Thân căn: thân thể

Sáu trần là:

1. Sắc trần: Cảnh bị thấy của mắt

2. Thanh trần: Tiếng bị nghe của tai

3. Hương trần: Mùi bị ngửi của mũi

4. Vị trần: Vị bị nếm của lưỡi

5. Xúc trần: Cảnh bị xúc của thân

6. Pháp trần: Cảnh bị biết của ý thức; tức là “vô biểu sắc”. Sắc này không tiêu biểu ra ngoài, nhưng đối với nội tâm (ý thức) chúng ta có thể thấy rõ ràng.

THỌ, tức là “thọ uẩn”. Thọ là lĩnh thọ. Sau khi tiếp xúc với cảnh rồi, sinh lĩnh thọ. Sự lĩnh thọ có năm: 1. Thọ khổ, 2. Thô vui, 3. Thọ buồn, 4. Thọ mừng, 5. Thọ không vui buồn.

TƯỞNG, tức là “Tưởng uẩn”. Tưởng là tưởng nhớ hình tượng của các cảnh. Do sau khi tiếp xúc và lĩnh thọ các cảnh khô vui rồi, sinh ra tưởng nhớ.

HÀNH, tức là “Hành uẩn”. Hành là sự thay đổi biến chuyển của tâm niệm. Trong 51 món Tâm sở, trừ Thọ và Tưởng ra, còn 49 món Tâm sở và 24 món Tâm Bất tương ưng, đều thuộc về Hành uẩn.

THỨC, thức là “Thức uẩn”. Thức nghĩa là hiểu biết phân biệt; có khả năng biến hiện ra các cảnh và phân biệt các cảnh. Thức, chia ra làm tám loại:

1. Nhãn thức: Cái biết của mắt, phân biệt các cảnh sắc.

2. Nhĩ thức: Cái biết của tai, phân biệt các tiếng tăm.

3. Tỵ thức: Cái biết của mũi, phân biệt các mùi.

4. Thiệt thức: Cái biết của lưỡi, phân biệt các vị trần.

5. Thân thức: Cái biết của thân, phân biệt xúc trần.

6. Ý thức: Cái biết của ý, phân biệt các pháp trần (cảnh nội tâm).

7. Mạt na thức: Cái biết thứ 7, chấp thức thứ 8 làm ngã.

8. A lại da thức: Cái biết thứ 8, chứa chủng tử các pháp

KHÔNG, tức đoạn sau nói “Không tướng”. Cái “không” đây, không phải hư không, ngoan không hay cái “không” đối với cái có; cũng không phải thủ tiêu hết các vật hữu hình mà nói là không; và cũng không phải cái”không” của Tiểu thừa (Thiên không).

Cái “không” đây, tức là bản tính thanh tịnh không có các hình tướng, nên gọi là “không tướng” (tướng không). Vì nó không sinh diệt, không hư dối, nên cũng gọi là “chân không” hay thật tướng, chân tướng, chân tính, chân tâm, chân như v.v…

Tóm lại, kinh này nói “năm uẩn” tức là bên Duy thức nói “94 pháp hữu vi”. Kinh này nói “không” hay “không tướng”, tức là bên Duy thức nói “sáu pháp vô vi”.

Kinh này nói: “Sắc chẳng khác với không” hay nói: “Sắc tức là không”, là nói “Pháp hữu vi tức là pháp vô vi”.

***

CHÁNH VĂN

Này Xá Lợi Tử! “Tướng không” (Bát Nhã) của các pháp đây, nó không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt.

Lược giải

Đoạn kinh này nói: Tính (Bát Nhã) của các pháp, không sinh không diệt, không cấu tịnh v.v…

Đoạn thứ nhất nói:” Năm uẩn đều không”, đoạn thứ hai nói:” Sắc chẳng khác với không”, hay “sắc tức là không v.v…”, đoạn này nói “tướng không của các pháp”; chữ “Không” ở trong ba đoạn này đều chỉ cho “Trí tuệ Bát Nhã”, tức là “Tính” của các pháp.

“Tính” của các pháp không có hình tướng: không có tướng sinh, không có tướng diệt, không có tướng cấu nhiễm của phàm phu, không có tướng thanh tịnh của chư Phật. Khi ngộ nó không thêm, lúc mê nó cũng không bớt. Bởi thế nên cũng gọi là “không tướng” (tướng không), chân tướng, thật tướng, chân tính, chân tâm, chân như, chân không hay thật tướng Bát Nhã v.v…

Tóm lại, “Tính” của các pháp là “chân tâm thanh tịnh sáng suốt”, không có các hình tướng, nên gọi là “không tướng” hay “Bát Nhã chân không”.

GIẢI DANH TỪ

PHÁP: Chỉ chung cho tất cả sự vật: tinh thần, vật chất, hữu hình vô hình, hữu vi vô vi, thánh phàm v.v…Chẳng những bàn ghế v.v…là “pháp”, cho đến hư không cũng là “pháp”. Bóng trong gương, trăng dưới nước là “pháp”, mà lông rùa, sừng thỏ cũng là “pháp”, cho đến tư tưởng tâm niệm cũng là “pháp”. Phàm những cái gì, tự nó giữ được cái bản chất của nó làm cho người biết được nó là cái gì, thì đều gọi là “pháp”.

Tóm lại, nói rộng là “tất cả pháp”, nói hẹp là “năm uẩn”. Nói “năm uẩn là chân không” tức là nói “các pháp là chân không”. Chính ở nơi các pháp mà nhận tướng “chân không”, chẳng phải ngoài các pháp, riêng có một tướng chân không”.

***

CHÁNH VĂN

Bởi thế nên, trong “Tướng không” (Bát Nhã) không có 5 uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có 6 căn là: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý; không có 6 trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có 6 thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.

Lược giải

Đoạn kinh này nói: Trong “Tướng không” (Bát Nhã) không có các pháp thế gian.

Vì “Tướng không” của các pháp (Bát Nhã) không sinh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm v.v…nên trong “Tướng không” (Bát Nhã) không có 5 uẩn, mười hai xứ (6 căn, 6 trần), mười tám giới (6 căn, 6 trần, 6 thức). Cũng như trên màn bạc (dụ Tướng không) không có các hình ảnh.

Thật ra, nói “năm uẩn” tức là gồm cả mười hai xứ và mười tám giới; trái lại, nói “mười hai xứ”, cũng gồm cả năm uẩn và mười tám giới; hay nói “mười tám giới” cũng gồm cả mười hai xứ và năm uẩn.

Sở dĩ phân chia riêng khác như vậy, là vì Phật phá sự chấp ngã của chúng sinh: Người chấp nặng về phần tinh thần (tâm) là Ngã, thì Phật nói “năm uẩn”, chia chẻ tinh thần (tâm) ra làm bốn phần là: thọ, tưởng, hành và thức để phá chấp. Còn “Sắc” không cần chia chẻ.

Người chấp nặng về phần vật chất (chấp thân) là Ngã, thì Phật nói “mười hai xứ”, chia chẻ sắc ra làm 12 phần là 6 căn và 6 trần, để phá chấp.

Người chấp cả tinh thần (tâm) và vật chất (sắc) làm Ngã, thì Phật nói “mười tám giới” chia chẻ cả tinh thần và vật chất ra làm 18 phần là 6 căn, 6 trần và 6 thức để phá chấp.

Tóm lại, trong Bát Nhã (Tướng không) không có các pháp của thế gian là năm uẩn, sáu căn, sáu trần và sáu thức.

GIẢI DANH TỪ

NĂM UẨN: (xem phần “giải danh từ” của đoạn thứ nhất, về câu “năm uẩn đều không”).

SÁU CĂN: (xem phần “giải danh từ” của đoạn thứ hai, về câu “sắc tức là sắc uẩn”).

SÁU TRẦN: (xem phần “giải danh từ” của đoạn thứ hai, về câu “sắc tức là sắc uẩn”).

SÁU THỨC: (xem phần “giải danh từ” của đoạn thứ hai, về chữ “Thức tức là thức uẩn).

***

CHÁNH VĂN

Không có mười hai nhân duyên, nghĩa là không có “vô minh”, và cũng không có “hết vô minh”, cho đến không có “lão tử” và cũng không có “hết lão tử”.

Lược giải

Đoạn kinh này nói: Trong “Tướng không (Bát Nhã) không có 12 nhân duyên là pháp tu xuất thế gian của Thánh Duyên giác.

Trong Bát Nhã chân không, cũng không có 12 nhân duyên: Về phần lưu chuyển là Vô minh duyên Hành, cho đến duyên Lão tử. Và về phần hoàn diệt là Vô minh diệt thì Hành diệt, cho đến Lão tử diệt.

Bậc Thánh Duyên giác, nhờ quán sự lưu chuyển của 12 nhân duyên, mà thấu rõ được nguồn gốc của sinh tử luân hồi; và cũng nhờ quán sự hoàn diệt của 12 nhân duyên mà được ngộ đạo.

Quán sự “Lưu chuyển” của 12 nhân duyên như thế nào, mà thấy rõ được nguồn gốc của sinh tử luân hồi? Hành giả quán 12 nhân duyên xoay vần tiếp nối lẫn nhau, như sợi dây chuyền có 12 khoen: khoen này chuyền khoen kia, khoen kia chuyền khoen nọ, như cái vòng tròn không mối.

Chúng sinh vì đời trước mê lầm (quá khứ căn bản vô minh) nên tạo ra các nghiệp (hành). Hai món này (vô minh và hành) làm nhân quá khứ.

Sau khi chết bị nghiệp lực dẫn dắt tinh thần (thức) đi thọ thân (danh, sắc). Khi thành thân, tất nhiên có 6 căn (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt v.v..) là chỗ của 6 trần phản ảnh vào (lục nhập). Khi có 6 căn tiếp xúc (xúc) với 6 trần, rồi sinh ra lã